[Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Tiếu lâm chính trị Việt Nam những năm 1980

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:04' 07-04-2024
Dung lượng: 400.1 KB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:04' 07-04-2024
Dung lượng: 400.1 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980)
Trần Khốt
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Mục lục
Lời “rào” đầu
----- 1 ------
----- 2 ------
----- 3 ------
----- 4 ------
Trần Khốt
Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980)
Lời “rào” đầu
Mục lục
Lời “rào đầu”
Mách nước Diêm Vương
Nhất thế giới
Nhất trí 100%
Toà nhà không hố xí
Ăn qua loa
Hàng xuất khẩu đặc biệt
Đồng chí Sáu La Mã
Bà con Lênin ở Việt Nam
Chùm chuyện Phạm Tuân bay vào vũ trụ
Dễ biết quá
Chỉ riêng Việt Nam
Đồng hương trên vũ trụ
Đỏ tay và đỏ má
Câu hỏi định mệnh
Lên nhanh nhất và xuống nhanh nhất
Bộ ta có nhà máy gì?
Lệnh anh Ba
Vấn đề đầu tiên
Lý lịch vào khối SEV
Kít chê Đặng ngu
Phần Việt Nam...
Họ “Tôn Thất”
Cả ngày xếp hàng
Bạn học anh Ba
Tin vào Đảng...
Một phần ba
“Bảng đỏ, sao vàng”
Chỉ cần ném...
Ai được dân thích nhiều hơn?
Ba thủ lợn
Chuyện lương...
Đầy tớ nhân dân
Đưa hình đi đâu?
Quái vật Thái Bình Dương
Nhại thơ, hoạ thơ Tố Hữu
“Ngang” như... Nguyễn Tuân
Bãi lầy đo tội
Tranh, tượng biết nói
Ba con vẹt
Người mới
Quốc ca mới
Dọn nhà
Có anh Ba... Lăm
Mong sống lâu
Lẫn
Không có ba cây...
Hoài Thanh mất tích
Ngọc Hoàng cũng khóc
Lại chuyện Ngọc Hoàng cũng khóc
Theo lời các cụ
Môn thi đấu mới
Tin kỳ cục trên trần
Địch sao nổi!
Bốn tấm hình
Con trai anh Năm
Rùa ngựa, ngựa rùa
Ám chỉ ai?
Xứng đáng là tổng bí thư
Phụ lục
Vè “tiêu cực” và dăm chuyện đặt vè
Báo Đảng sợ... vè “tiêu cực”
Vè chợ búa
Vè lương tháng
Vè giáo dục
Vè làng văn
Vè Phạm Tuân
Vài chuyện tiếu lâm Sài Gòn trước năm 1975
Cầu Thượng đế phù hộ
Dân chúng đỡ khổ
Ông bầu
Tranh khoả thân
Dọn nhà
Vài chuyện tiếu lâm chính trị Trung Quốc, Liên Xô, Đức
TRUNG QUỐC
Mao Chủ tịch nói...
LIÊN XÔ
Chùm chuyện tiếu lâm thời Khơrútsốp
Khơ chết ngất
Khơ sợ “tệ sùng bái cá nhân Khơrútsốp”
Bội thu và thất thu
Xêđenban mặc áo mưa
Quỷ sứ cũng phải sợ
Chùm chuyện tiếu lâm thời Brrzhnev
Dân say bét nhè
Đồ dối trá
Chưa tỉnh hôn mê
Không sợ chuyện tiếu lâm
Người kế nhiệm
ĐỨC
Chùm chuyện tiếu lâm thời Hítle
*
Lời “rào” đầu
Tiếu lâm nói chung và tiếu lâm chính trị nói riêng là thể loại văn học dân gian truyền miệng tồn tại lâu
đời ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam ta. Tuy nhiên, trong cuốn sách “mini” này, người sưu tầm (nói
cho đúng hơn: người nghe và ghi) chỉ dám “khoanh vùng” mảng tiếu lâm chính trị năm 1980. Có hai
lý do khiến tôi làm như vậy. Thứ nhất, đó là năm ở ta rộ lên nhiều chuyện tiếu lâm chính trị (hệ quả
hiển nhiên của thời kỳ trì trệ trước khi cả nước bước vào vận hội Đổi mới). Thứ hai, đó cũng là năm
tôi gặp “hoạ”, có tới mấy tháng phải nằm bẹp tại Bệnh viện Trưng Vương và Viện Điều dưỡng (Tp.
Hồ Chí Minh). Thế nhưng, trong “hoạ” lại có... “phúc”. Đúng mấy tháng dài nằm viện ấy, tôi được dịp
làm quen với nhiều cán bộ mọi miền. Và điều đáng nói là chính họ đã kể cho tôi cùng đám bạn chung
cảnh ngộ nghe đủ thứ chuyện tiếu lâm, mà đa phần là tiếu lâm chính trị. Giữa lúc ngay cả bệnh nhân
cán bộ cũng phải chia sẻ tình trạng thiếu thuốc, thiếu ăn với bà con dân thường thì những mẩu chuyện
tiếu lâm cùng những câu vè mà bọn tôi rỉ rả kể cho nhau nghe quả là liều thuốc và món ăn tinh thần vô
giá.
Gần ba chục năm trôi qua, vậy mà tôi vẫn nhớ như in người kể chuyện tiếu lâm nhiều nhất, hóm hỉnh
nhất (và cũng là người tôi thân thiết nhất) ở Khoa Nội cán bộ [1] hồi ấy là bác Lương Nhân, hoạ sĩ đa
tài của Đoàn Cải lương Nam bộ. Chiều chiều, khi cơm nước xong xuôi, tôi cùng số bệnh nhân túc tắc
đi lại được thường mời bác Lương Nhân ra vườn hoa để nghe bác kể chuyện. Bác kể chuyện cười
nhưng chính bác lại không hề nhếch mép cười, có chăng chỉ “diễn” thêm bằng cặp mắt ranh mãnh và
cái miệng móm xọm. Cách kể “tỉnh khô” ấy càng khiến bọn tôi cảm thấy tức cười hơn. Bởi vậy nên
mới có chuyện một bệnh nhân, tên Ẩn, không ít lần phải chắp tay lạy bác Lương Nhân khi vừa thấy bác
lò dò đến bên giường mình: “Con van bác! Bác mà kể tiếu lâm lúc này là con phải kêu cấp cứu đó!”.
Anh Ẩn không nói giỡn. Những người mắc bệnh hen suyễn như anh, tôi và cả bác Lương Nhân nữa, hễ
cười nhiều là lập tức lên cơn khó thở. Mà bác Lương Nhân đã kể thì đố ai nín được cười…
Chính bác Lương Nhân là người bảo tôi nên ghi lại chuyện tiếu lâm. Bác rủ rỉ: “Chú em là nhà báo,
chú nên ghi lại mọi chuyện tiếu lâm truyền miệng để lớp con cháu đời sau biết rõ ông cha chúng đã
sống và cười trong gian khó như thế nào. Chú em cứ mạnh dạn ghi đi, nghe gì ghi nấy thôi mà…” Tôi
gãi tai, vờ thoái thác: “Nhiều chuyện đụng chạm ghê gớm, con hãi lắm bác ơi! Chỉ nghe thôi đã hãi
rồi, bây giờ lại ghi ra giấy trắng mực đen, tang chứng - vật chứng rành rành, con ủ tờ là cái chắc!”.
Bác Lương Nhân cũng vờ quắc mắt, nạt: “Sao hèn vậy mầy! Nếu người xưa ai cũng sợ ở tù như mầy,
thời nay đâu còn được đọc Sử ký Tư Mã Thiên, Truyện Trạng Quỳnh, Thơ Hồ Xuân Hương…? Nội
chuyện ông Trạng Quỳnh nhà ta cùng nhiều vị sĩ phu khác dám lỡm và chửi thẳng đám vua quan đồi
bại, bây giờ đọc lại vẫn thấy 'đã' và vẫn thấy... thời sự! Mầy ghi đi. Qua [2] sẽ vắt óc nhớ lại mọi
chuyện, rồi kể lai rai cho mầy ghi. Ghi sao cho hay là việc của mầy”. Nghe bùi tai nhưng, thú thật, tôi
vẫn... hãi. Như đọc được ý nghĩ của gã nhà báo gầy quắt, bác Lương Nhân chậm rãi nói tiếp: “Qua chỉ
bảo mầy ghi thôi mà. Đăng báo hoặc ra sách tiếu lâm chính trị lúc này thì quả là nằm mơ giữa ban
ngày! Thế nhưng vài chục năm nữa, biết đâu…”
Tôi “chịu đèn” và từ hôm ấy, bắt đầu hí húi ghi ghi chép chép những chuyện tiếu lâm mà bác Lương
Nhân và vài bệnh nhân khác đã kể “lai rai”. Chỉ sau một thời gian ngắn, cuốn sổ tay đóng bằng giấy in
báo vàng khè đã dày đặc những con chữ nhỏ xíu. Ở ngay trang đầu, tôi nắn nót ba hàng chữ:
Tiếu lâm chính trị
Tài liệu tham khảo
(Mật – Không phổ biến)
Chưa thật yên tâm, tôi còn viết thêm lời “rào trước” với ngôn từ quen thuộc của cán bộ tuyên huấn
thời ấy:
“Gần đây, nghe nhiều chuyện 'tiếu lâm chính trị', cảm thấy đau lòng. Ai là tác giả thứ chuyện độc
hại này? Trước hết, đó là những phần tử bất mãn trong hàng ngũ cán bộ ta, đặc biệt là đám tự xưng
'sĩ phu Bắc Hà' (hầu hết chuyện tiếu lâm chính trị và vè đều có xuất xứ Hà Nội). Kế đến, là bọn
tâm lý chiến đế quốc và bành trướng. Tôi đã phát hiện một số chuyện được 'chế' từ mấy tập truyện
cười xuất bản ở Sài Gòn trước ngày giải phóng hoặc 'cóp' chuyện tiếu lâm nước ngoài (xem phần
Phụ lục).
Nghe nói Ban Tuyên huấn Trung ương đang cho người sưu tầm tiếu lâm chính trị để nghiên cứu.
Từng là cán bộ tuyên huấn, tôi thấy mình cần tham gia cuộc sưu tầm bổ ích ấy. Việc này lại càng
thuận lợi hơn khi bệnh tật đang buộc tôi phải tạm ngưng công tác chuyên môn…
Bệnh viện Trưng Vương, tháng 4-1980”
Giờ đây, một ngày đầu tháng 3-2007, tôi lại cầm trên tay cuốn sổ đã ố vàng nhưng vẫn còn rõ ràng
mọi chữ ghi trong đó. Phải nói ngay rằng suốt 27 năm qua, tôi mới chỉ cho đúng ba người đọc cuốn
Tiếu lâm chính trị này. Một trong ba người ấy, bà bạn học N.P.M., cán bộ tuyên huấn cấp cao, đã giúp
tôi chuyển bản chép tay gần hai chục chuyện tiếu lâm tiêu biểu (và gai góc nhất) cho mấy vị cần
nghiên cứu. Như vậy, tôi đã giữ đúng lời hứa nêu trong lời “rào trước” kể trên. Chỉ tiếc rằng trong số
ba người tôi tận tay đưa đọc cuốn Tiếu lâm chính trị, lại không có bác Lương Nhân, vì bác đã qua
đời ngay tại Bệnh viện Trưng Vương trước khi tôi kịp hoàn tất cuốn sách. Dẫu thế, cho đến tận nay, tôi
vẫn nhớ câu bác nói khi ấy: “Đăng báo hoặc ra sách tiếu lâm chính trị lúc này thì quả là nằm mơ giữa
ban ngày. Thế nhưng vài chục năm nữa, biết đâu…”
Thưa bác Lương Nhân, bây giờ cái “vài chục năm nữa” ấy đã qua rồi. Và không còn là chuyện “nằm
mơ giữa ban ngày” nữa khi mới đây thôi, bốn vị hào kiệt Nhân văn-Giai phẩm là Hoàng Cầm, Trần
Dần, Phùng Quán và Lê Đạt đã được tặng Giải thưởng Nhà nước… Cũng không phải là chuyện “nằm
mơ giữa ban ngày” nữa khi từ tháng 6.2006, ngay tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở giữa thủ đô, đã
có cuộc triển lãm hi hữu mà đến tận nay vẫn còn mở cửa: “Hà Nội thời bao cấp, 1976-1986”. Nhiều
hiện vật sống động và… nhếch nhác của cả một thời khốc liệt đã được trưng bày, đi ngược lại với
quan niệm của người xưa và không ít người nay: “Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”. Dám “phô ra” giữa
thanh thiên bạch nhật cái “xấu xa” của một thời chưa xa, các vị làm bảo tàng ấy hẳn là có “tư duy
mới” và có dũng khí... “mó dái ngựa”. Có lẽ họ thầm hiểu rằng việc phô ra cái “xấu xa” trong quá khứ
cũng chính là cách tô đậm thêm cái “tốt đẹp” của thời hiện tại, cho dù cái tốt đẹp này đang cần nhiều
chăm bẵm... Thế nhưng đông đảo người xem, đặc biệt là lớp người xem đứng tuổi như tôi, vẫn cảm
thấy ở triển lãm ấy còn thiêu thiếu một cái gì đó. Và theo tôi, cái “thiêu thiếu” ấy chính là vô số
chuyện tiếu lâm chính trị gai góc, vô số câu vè chua cay từng “nở rộ” suốt cả thời bao cấp, cái thời
mà đời sống hầu hết dân chúng được một “vè sĩ” khái quát thật tài tình: Ăn như nhà tu, ở như nhà tù,
nói như lãnh tụ. Tiếu lâm chính trị và vè cũng chính là thứ “hiện vật” cần được “phô ra” tại triển lãm
ấy. Vâng, nếu tôi là người đứng ra tổ chức triển lãm, tôi sẽ không ngần ngại dành hẳn một gian để bù
đắp cái “thiêu thiếu” mà người xem đã tinh tế cảm nhận. Có thể, tại gian triển lãm đó, tôi sẽ mời một
số danh hài “diễn” lại một số chuyện tiếu lâm đặc sắc, như các nghệ sĩ Tiệp Khắc, Hungari từng làm
hồi cuối năm 1989 mà tôi đã được chứng kiến tận mắt, và cũng như các nghệ sĩ Việt Nam ta từng diễn
trong tiết mục “Thư giãn” của VTV3 mỗi chiều chủ nhật… Có thể, tôi sẽ tặng người xem những trang
giấy A4 in sẵn dăm chuyện tiếu lâm và vài câu vè nổi tiếng… Có thể, với người xem sẵn tiền, tôi sẽ
mời họ mua mấy cái CD ghi lại một số chuyện tiếu lâm và câu vè chọn lọc… Có thể, ngay tại gian
triển lãm, tôi sẽ cho phát qua hệ thống loa (âm thanh nổi) nội dung các CD ấy để mọi người cùng
nghe, cùng cười... Có thể… Có thể... Có thể... Chẳng biết đó có phải lại là “nằm mơ giữa ban ngày”
hay không, nhưng rõ ràng tôi đang chuẩn bị cho giấc mơ ấy trở thành hiện thực bằng việc “phô ra”
cuốn Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980).
Trong cuốn sách mỏng này, ngoài phần chính là 58 chuyện tiếu lâm chính trị được chọn lọc và chú
thích kỹ lưỡng, còn có thêm phần Phụ lục (22 chuyện) gồm “Vè 'tiêu cực' và dăm chuyện đặt vè”,
“Vài chuyện tiếu lâm Sài Gòn trước năm 1975” và “Vài chuyện tiếu lâm chính trị Trung Quốc, Liên
Xô, Đức”.
Điều cần lưu ý là phần lớn chuyện tiếu lâm chính trị mà tôi ghi được trong năm 1980 (năm có nhiều lễ
kỷ niệm lớn và nhiều sự kiện quan trọng) đều mang tính thời sự rất cao. Chẳng hạn, khi vừa hay tin
Phạm Tuân “quá giang lên vũ trụ” [3] , lập tức các “sĩ phu dân gian” cho ra lò loạt tiếu lâm và vè “ăn
theo”. Tuy nhiên, cũng có một số chuyện và vè “phát sinh” từ trước năm 1980 (tỷ như chuyện “Toà nhà
không hố xí”), nhưng tới năm 1980 bà con ta vẫn hay kể lại và tôi vẫn cứ ghi. Tôi còn ghi thêm đôi ba
chuyện nghe được trong năm 1981...
Tôi cũng xin thưa rằng ngoại trừ một số chuyện tiếu lâm “chế” hoặc “cóp” như tôi từng phát hiện và
đưa vào phần Phụ lục, hầu hết số còn lại đều thấm đẫm chất thâm thuý - đặc trưng của dòng văn học
dân gian truyền miệng có “sức chảy” ghê gớm, băng qua mọi “ghềnh thác” cường quyền. Đương nhiên,
số chuyện tiếu lâm chính trị và vè tôi đã “nghe và ghi” vỏn vẹn trong năm 1980 mới chỉ chụp “cắt
lớp” được một “tầng mỏng” của dòng văn học tuy dân dã song cũng rất mực uyên thâm ấy...
Kể chuyện tiếu lâm tài tình như bác Lương Nhân đã khó, ghi lại cho hay lời kể “tỉnh khô” đó cũng khó
chẳng kém. Dù tôi đã hết sức cố gắng nhưng nếu có chuyện nào ghi chưa thật “đã” thì kính mong quý
vị “sĩ phu dân gian” ngày xưa cùng quý vị bạn đọc ngày nay rộng lòng châm chước.
Chuyện tiếu lâm thường có dị bản, mỗi người nghe lại hay “thêm mắm thêm muối” khi kể lại cho
người khác, thế nên tình trạng “tam sao thất bản” khó tránh khỏi. Có khi một chuyện, tôi lại được nghe
mấy người kể, mỗi người lại kể một khác, nên tôi phải chọn những tình tiết “đắt” nhất để ghi lại...
Trong nhiều chuyện, cái thực và cái hư đan xen lẫn lộn, song tôi vẫn ghi cả hai để bạn đọc “rộng
đường dư luận”. Quả là tôi vẫn chưa quên lời bác Lương Nhân: “... nghe gì ghi nấy thôi mà...” Viết
đến đây, tôi lại sực nhớ đến câu chuyện bi hài liên quan đến một bậc trưởng lão trong làng văn Việt
Nam - cụ Nguyễn Công Hoan. Số là tác giả Bước đường cùng đã bị “cạo” khi vừa đăng trên báo Văn
nghệ mấy bài đầu rút từ cuốn hồi ký chưa công bố, với tựa đề: Nhớ gì ghi nấy. Vậy mà chính cái tựa
đề hiền khô ấy lại bị hạch tội ngay giữa thời “chống xét lại”. Một vị lãnh đạo tuyên huấn đã đăng đàn
phê phán, đại ý: “Phải viết có lập trường giai cấp, theo đúng đường lối của Đảng, chứ không thể viết
theo kiểu 'nhớ gì ghi nấy' sặc mùi khách quan tư sản...” Dẫu vậy, Trần Khốt này vẫn bảo vệ “lập
trường” nghe gì ghi nấy khi “phô ra” cuốn Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980) này...
Lời “rào” đầu đã khá dài, song tôi vẫn thấy mình cần “rào” thêm đoạn cuối:
Vì muốn ghi lại trung thực những chuyện tiếu lâm lưu truyền rộng rãi trong dân gian thời bao cấp, tôi
đã giữ nguyên tên hoặc bí danh một số vị lãnh đạo thời đó, đồng thời không né tránh tên Đảng (viết
hoa), cho dù việc liều lĩnh ghi trên giấy trắng mực đen như vậy có thể bị khép vào tội “phạm huý” và
“phạm thượng”. Nhưng biết làm sao được khi dân gian đã lưu truyền như thế và ở nhiều nước người ta
cũng “phạm huý”, “phạm thượng” như thế? Nhân đây, tôi cũng xin thưa thêm chuyện này: Một lãnh tụ
nổi tiếng nước ngoài, ông L.I. Brezhnev, cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, từng “được” giới
“sĩ phu dân gian” Liên Xô và Đông Âu đặt khá nhiều chuyện tiếu lâm chua cay (xem phần Phụ lục).
Nhưng điều thật lạ là con người thường bị báo chí phương Tây gọi là “độc tài khét tiếng” ấy lại chưa
hề tống đi Sibiri bất kỳ người sáng tác tiếu lâm chính trị nào! Trái lại, những người đặt chuyện hay
còn được ông... tặng quà. Chẳng những thế, ông còn đích thân kể chuyện tiếu lâm chế giễu chính mình
cho các vị lãnh đạo nước ngoài cùng nghe và cùng cười. Chuyện hi hữu này đã được đăng trên tờ báo
của Bộ Công an có rất nhiều người đọc: An ninh Thế giới, ngày 18.12.2006. Dù không dám “nằm mơ
giữa ban ngày” nhưng tôi vẫn mong sao các bạn làm công tác an ninh tư tưởng ở ta hôm nay cũng cần
tham khảo (và học tập, nên lắm chứ?) cách ứng xử của vị lãnh tụ Xô-viết ngày xưa. Cả thời xưa lẫn
thời nay, cả ở trong nước lẫn ngoài nước, việc đặt và kể chuyện tiếu lâm hoặc vè chẳng qua chỉ là
cách “xả stress” khá... hiền lành. “Xả” đỡ nguy hơn “nổ” nhiều lắm...
Sài Gòn - Tp. Hồ Chí Minh, đầu Xuân 2007
Trần Khốt
*
[1]Khoa
nội dành cho cán bộ sơ-trung cấp (Các chú thích đều của Trần Khốt)
[2]Cách xưng hô
[3]Thơ
[4]Thế
thân mật của người Nam bộ cao tuổi, có thể hiểu là “bác”, “chú”, “tao”...
Bến Nghé, báo Sài Gòn Giải phóng
giới thứ ba là thế giới các nước nghèo, hai thế giới còn lại là thế giới các nước xã hội chủ
nghĩa và thế giới các nước tư bản chủ nghĩa.
[5]Tức
tầng trệt, như người Nam thường gọi. Các tầng kế tiếp là lầu một, lầu hai, lầu ba...
Trần Khốt
Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980)
----- 1 -----1. Mách nước Diêm Vương
Ba cán bộ Việt Nam cỡ lớn nọ khi chết liền bị Diêm Vương sai quỷ sứ điệu đến hỏi tội. Cả ba đều
phạm quá nhiều tội với dân, với nước nên Diêm Chúa quyết định trừng trị bằng hình phạt nặng nhất ở
chốn âm ty: ném xuống vạc dầu.
Hôm thi hành bản án, quỷ sứ ném cán bộ thứ nhất xuống vạc dầu sôi sùng sục. Nhưng lạ thay, kẻ tử tội
vẫn sống nhăn. Ông ta được lôi lên và cán bộ thứ hai bị ném xuống. Kết quả vẫn như vậy: vạc dầu của
Diêm Vương bất lực. Đến cán bộ thứ ba cũng thế!
Diêm Vương nổi cơn lôi đình.
Một cận thần của Diêm Vương, vốn từng sống và làm việc lâu năm ở Việt Nam, bèn ghé tai Diêm
Vương, tâu nhỏ: “Xin cứ ném cả ba xuống cùng một lúc”.
Diêm Vương y lời.
Kết quả, khi vừa xuống vạc dầu, ba cán bộ Việt Nam nọ đã… cắn nhau chết tươi.
2. Nhất thế giới
Để dư luận thế giới chú ý đến nạn đói đang hoành hành ở nhiều nước thuộc thế giới thứ ba [4] , Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO) của Liên Hiệp Quốc quyết định mở cuộc thi vẽ lớn với đề
tài: cảnh đói khát khủng khiếp nhất.
Nhiều hoạ sĩ nổi tiếng thuộc các nước nghèo sôi nổi tham gia cuộc thi. Họ cố mô tả thật sắc nét tình
trạng đói khát cùng cực ở đất nước mình, đặng tranh thủ sự trợ giúp của các nước giàu. Tuy nhiên, lọt
vào vòng chung kết chỉ có tranh của hoạ sĩ ba nước : Ấn Độ, Campuchia và Việt Nam. Ba bức tranh
này được đưa ra xét kỹ tại một hội đồng giám khảo quy tụ nhiều hoạ sĩ bậc thầy.
Tranh Ấn Độ được xét đầu tiên. Mọi người trầm trồ tán thưởng bức tranh vẽ hai người Ấn gầy giơ
xương đang tranh nhau một miếng thịt bò. Chủ tịch Hội đồng Giám khảo nhận xét: “Người Ấn tôn thờ
bò. Vậy mà giờ đây, họ chẳng những mổ bò làm thịt, mà còn tranh nhau từng miếng thịt nhỏ. Qua đó đủ
biết ở Ấn Độ, tình trạng đói khát ghê gớm đến mực nào!” Bức tranh được toàn thể Hội đồng Giám
khảo nhất trí tặng giải ba.
Đến lượt bức tranh Campuchia đưa ra, mọi người rùng mình khi thấy một người Khmer, nom hệt bộ
xương, đang ngồi trên đống xương khô (nạn nhân thời Pol Pot), hai tay cầm đầu ống xương cho vào
mồm, má hóp lại để cố mút chút tuỷ may ra còn sót lại. Sau một hồi bàn cãi, các vị giám khảo biểu
quyết bức tranh thê thảm ấy được giải hai.
Còn bức tranh của Việt Nam ta? Cả phòng ồ lên sửng sốt khi người ta giới thiệu bức tranh. Và không
hề bàn cãi một lời, toàn thể Hội đồng Giám khảo nhất trí tặng nó giải nhất. Có ý kiến còn cho rằng nó
xứng đáng được trao giải đặc biệt...
Bức tranh Việt Nam ta hết sức giản dị: cái lỗ đít bị mạng nhện chăng đầy.
3. Nhất trí 100 %
Một hôm, sau ngày làm việc cực nhọc ngoài đồng, Trâu ta vừa nằm nhai cỏ, vừa ngẫm nghĩ sự đời.
Trâu thấy mình làm lụng chăm chỉ quanh năm suốt tháng, lại không hề kêu ca, đòi hỏi lấy nửa lời, rất
xứng đáng với danh hiệu “Lao động tiên tiến”. Nghe nói Đảng đang cần kết nạp những người “Lao
động tiên tiến” để tăng cường đội ngũ công nông, Trâu ta bèn quyết định nộp đơn xin vào Đảng.
Đơn của Trâu liền được đưa ra Chi bộ xem xét. Chi bộ nhận thấy đồng chí Trâu tuy làm việc rất đáng
được trao danh hiệu “Lao động tiên tiến”, nhưng lại kém thông minh, nên đơn bị bác.
Ngựa thấy Trâu làm đơn xin vào Đảng, liền bắt chước. Trong đơn, Ngựa viết: “So với đồng chí Trâu,
tôi chẳng những lao động không thua kém, mà lại thông minh hơn nhiều. Ngoài ra, tôi còn có thể làm
vật cưỡi cho các đồng chí lãnh đạo cấp cao dạo chơi...”
Chi bộ cũng xem xét ngay đơn xin vào Đảng của Ngựa. Mấy ưu điểm mà đồng chí Ngựa nêu trong đơn
đều được Chi bộ ghi nhận. Nhưng cuối cùng, đơn của Ngựa cũng bị bác với lý do chắc nịch: đồng chí
Ngựa có cú đá hậu rất độc, ảnh hưởng nặng nề đến đoàn kết nội bộ.
Thấy đơn của Trâu và Ngựa đều bị Chi bộ bác, Rệp và Muỗi liền làm đơn xin vào Đảng. Đơn của hai
đồng chí chuyên hút máu này viết hệt như nhau: “Tôi tuy chẳng phải là Lao động tiên tiến như đồng chí
Trâu và đồng chí Ngựa, nhưng bù lại, tôi có cái cơ bản mà hai đồng chí đó không thể có: trong huyết
quản của tôi từ bao đời nay đều có dòng máu công nông. Tôi cảm thấy mình hoàn toàn xứng đáng
được đứng trong hàng ngũ Đảng của giai cấp công nông...”
Đơn của đồng chí Rệp và đồng chí Muỗi được Chi bộ chấp nhận với sự nhất trí 100%.
4. Toà nhà không hố xí
Tại Hà Nội, một toà nhà bốn tầng mới xây thu hút nhiều người đến tham quan, vì nó được thiết kế khá
đẹp. Chỉ có điều rất lạ là suốt cả bốn tầng đều không hề có một hố xí nào. Mọi người xúm lại hỏi ông
kiến trúc sư và được ông giải thích như sau:
“Tầng một [5] dành cho nhà trẻ, các cháu đi ị vào bô. Tầng hai dành cho cán bộ cấp thấp, mọi người đi
ị ở cơ quan. Tầng ba dành cho cánh văn nghệ sĩ thì ị được bãi nào, họ nhét vào mồm nhau bãi ấy. Còn
tầng bốn dành cán bộ cấp cao, mấy vị ấy chỉ quen ị lên đầu thiên hạ. Bởi thế, chúng tôi xây hố xí làm
gì cho nó lãng phí?”
5. Ăn qua loa
Trong một lần “xuống cơ sở”, Bộ trưởng Bộ Lương thực-Thực phẩm Hồ Viết Thắng ghé thăm gia đình
bác nông dân nọ. Để bày tỏ sự quan tâm của thượng cấp, ông Bộ trưởng ân cần hỏi chủ nhà:
“Bà con ta ở đây lâu nay ăn uống ra sao?”
“Dạ, chúng tôi chỉ ăn uống qua loa thôi ạ.”
“Đề nghị bác cho tôi biết cụ thể ăn qua loa là ăn những món gì để tôi còn về báo cáo lên Trung ương
về thành tích cải thiện đời sống nông dân. Bữa ăn của bà con ta có đủ no không? Hằng ngày có thịt, có
cá chứ?”
“Thưa Bộ trưởng, tôi đã nói cụ thể lắm rồi mà! Nhiều năm nay, bà con chúng tôi chỉ ăn qua loa
thôi...”
Nói đến đây, bác nông dân liền chỉ tay lên... chiếc loa phát thanh công cộng đang đọc oang oang một
bài của báo Nhân dân thống kê vô số thành tích vượt bậc về sản xuất lương thực - thực phẩm, cải
thiện đời sống nhân dân, v.v...
6. Hàng xuất khẩu đặc biệt
Ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã miền núi nọ nhận được công văn “hoả tốc” từ trên tỉnh gửi xuống.
Ác một nỗi là công văn lại đánh bằng máy chữ không dấu nên ông bóp óc mãi, cũng chẳng đoán ra.
Công văn có đoạn viết:
“Thu mua gap 1.000 can long lon rung de xuat khau. Bay ngay nua co xe xuong nhan.”
Ba chữ “long lon rung” làm Chủ tịch xã nhà ta đau đầu nhất. Những chữ khác thì ông đoán đại khái
rằng trên tỉnh cần thu mua gấp 1.000 cân gì gì đó để xuất khẩu và bảy ngày nữa sẽ có xe xuống nhận.
Nhưng thứ hàng cần thu mua gấp là cái gì đây?
Nghĩ cả ngày không ra, đêm ông lại nằm vắt tay lên trán nghĩ tiếp. Ông cứ trằn trọc, khiến cô vợ trẻ
nằm bên cũng không ngủ được. Cáu quá, không thèm nghĩ nữa, ông quay ra... nghịch cái thân hình chắc
lẳn của cô vợ. Bàn tay ngứa ngáy của ông bắt đầu lục lạo hết bên trên lại bên dưới. Vừa lục lạo tới
chỗ đầy “lau lách”, ông Chủ tịch bỗng vỗ đùi vợ đánh “bách”, rồi reo lên như nhà bác học
Archimedes thời xưa: “Ồ, có thế mà cũng chẳng nghĩ ra!” Để cô vợ khỏi hỏi han lôi thôi chuyện quốc
gia đại sự, ông tiếp tục cùng nàng tận hưởng một trong “tứ khoái” trời cho, rồi sau đó cùng lăn ra...
ngáy.
Mờ sáng hôm sau, chỉ kịp rít vài hơi thuốc cho tỉnh ngủ, Chủ tịch xã đã hớt hải chạy qua nhà Chủ tịch
Hội Phụ nữ ở bên kia đồi và chìa cho bà ta xem cái công văn “hoả tốc” oái oăm nọ. Ông vừa cười ha
hả, vừa cắt nghĩa từng chữ cho bà nghe. Bà Chủ tịch Hội mới ngoài bốn mươi, mặt đỏ rần, nhìn bức
công văn nửa tin nửa ngờ. Đoán được ý bà, Chủ tịch xã nghiêm giọng nói:
“Chữ ký của đồng chí Chủ tịch tỉnh đây. Con dấu của Ủy ban Nhân dân tỉnh đây. Bà không nhận ra hả?
Công tác này đúng là của mấy bà, chẳng chạy vào đâu được!”
“Nhưng đào đâu ra cả tấn của nợ ấy đây?” - Chủ tịch Hội dấm dẳn hỏi. “Cả xã này chỉ có non ngàn
phụ nữ. Mà nhà ông thừa biết cái giống ấy đâu có nhiều nhặn gì...”
Chủ tịch xã cười ngặt nghẽo:
“Mặc xác các bà! Tôi chỉ biết cứ chiểu theo công văn mà làm. Bảy ngày nữa mà mấy bà không gom đủ
thì cứ liệu thần hồn. Bà không thấy ba chữ để xuất khẩu đó sao? Báo Nhân dân hôm nọ đăng xã luận
hô hào toàn dân thi đua sản xuất nhiều mặt hàng xuất khẩu để thu ngoại tệ, đặng làm giàu cho đất nước.
Cái thứ mà mấy bà phải gom đích thị là mặt hàng xuất khẩu đặc biệt của nước nhà đấy...”
“Nhưng mà xuất khẩu cái gì quý giá, chứ ai lại xuất khẩu cái giống khỉ gió ấy?” Mặt bà Chủ tịch Hội
lại đỏ như gấc.
“Này, nhà bà không biết thì đừng có ngứa mồm bàn vào chuyện quốc gia đại sự nhá! Tôi nghe người ta
bảo chính cái giống 'khỉ gió' ấy của mấy bà lại là thứ thuốc cầm máu hiệu nghiệm như thần đấy! Ông
Nhà nước thu mua thứ hàng này là chúa khôn. Chẳng mất công cấy trồng gì cả, cũng chẳng mất vốn
liếng gì cả, vậy mà,... ha... ha..., thu được ối ngoại tệ. Thôi, bà liệu mà đi vận động chị em. Công tác
đặc biệt chứ chẳng phải bỡn đâu! Bà nào gom được nhiều, xã sẽ tặng giấy khen. Ai chống đối, sẽ bị
trừng phạt...”
Bảy ngày sau. Một chiếc xe tải đỗ xịch trước trụ sở Ủy ban Nhân dân xã. Ông Chủ tịch, mặt tái mét,
chạy ra đón anh cán bộ thu mua của tỉnh.
Thôi chết rồi. Trên tỉnh phái hẳn một xe tải xuống để nhận hàng, vậy mà suốt cả tuần qua, các bà các
cô trong Hội Phụ nữ chạy long tóc gáy cũng chỉ mới thu được có... vài lạng. Biết ăn nói làm sao với
thượng cấp đây? Chủ tịch xã xun xoe mời cán bộ tỉnh uống trà, hút thuốc, mặt ông ta méo xệch...
Ngồi chưa nóng đít, anh cán bộ đã giục toáy:
“Đồng chí cho người chất hàng lên xe để chúng tôi ngược sớm.”
Chủ tịch xã đờ cả người, gãi đầu gãi tai, miệng lắp bắp:
“Báo cáo đồng... đồng... chí, thứ hàng trên... tỉnh... ra lệnh... thu... thu... mua... gay cho chúng...
chúng... tôi quá! Chúng tôi vận... vận... động toàn thể... chị... chị... em trong toàn xã... mà chỉ thu...
được... có... có... ngần... này...”
Anh cán bộ tỉnh há hốc mồm khi thấy ông Chủ tịch xã rụt rè lôi từ ngăn kéo bàn làm việc một... gói
giấy báo. Mở gói giấy ra, cán bộ nọ vội vàng lấy tay bịt mũi.
Chủ tịch xã cười như mếu và lắp bắp tiếp:
“Đồng... đồng chí thông... cảm cho chị... chị... em. Thật là... khổ, nhiều... chị... em không chờ được...
tới... lúc... rụng..., phải lấy... kéo... kéo... cắt... Vậy mà...”
Anh cán bộ thu mua vẫn chẳng hiểu ất giáp gì. Sao Chủ tịch xã lại toàn nói đến chị em, đến cái gì đó
rụng, đến kéo cắt? Thứ hàng cần thu mua để xuất khẩu đâu có dính dáng nhiều đến chị em như vậy?
Cảm thấy có chuyện lạ gì đây, anh ta đòi xem lại cái công văn “hoả tốc” mà trên tỉnh vừa gửi xuống
tuần trước. Chủ tịch xã vội vàng mở xà cột, lôi ra tờ công văn nhàu nát, nhưng vẫn còn nom rõ ba chữ
“long lon rung” được gạch đậm bên dưới bằng bút đỏ.
Cán bộ tỉnh xem kỹ tờ công văn, rồi hỏi Chủ tịch xã:
“Vậy đồng chí hiểu ba chữ mà đồng chí gạch dưới này là thứ hàng gì?”
Giương mục kỉnh, ông Chủ tịch xã bốc một nhúm “hàng xuất khẩu đặc biệt” lên nhòm, rồi hỏi lại:
“Thế cái hàng ấy chẳng phải là... là... lông... của... chị em... rụng... thì là... cái gì?”
Anh cán bộ thu mua trợn trừng mắt:
“Bố giết con rồi, bố ơi là bố! Cái thứ hàng mà con cần thu mua gấp là lông lợn rừng. Lông lợn rừng!
1.000 cân! Để xuất khẩu! Bố hiểu chưa?”
Chủ tịch xã không kịp nghe hết câu, đã lăn ra... chết giấc.
Trần Khốt
Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980)
----- 2 -----7. Đồng chí Sáu La Mã
Năm 1970, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Lênin, nhiều cuộc mít tinh lớn nhỏ được tổ chức
chẳng những ở Hà Nội, mà còn ở tất cả các tỉnh, thành, huyện, xã... Ngoài ra, còn có các cuộc mít tinh
cỡ “bỏ túi” ở khắp các cơ quan, trường học, xí nghiệp, hợp tác xã... Cả núi tài liệu về thân thế, sự
nghiệp Lênin vĩ đại đã được Ban Tuyên huấn Trung ương và tuyên huấn các cấp phổ biến rộng rãi
xuống tận cơ sở.
Cũng như mọi nơi khác, đúng ngày 22.4, một hợp tác xã nông nghiệp - được coi là “ngọn cờ đầu” của
ngoại thành Hà Nội - tổ chức cuộc mít tinh có cả ngàn xã viên tham dự. Hàng ngũ quan khách cũng khá
đông đảo: quan khách cấp xã, quan khách cấp huyện, quan khách cấp thành phố... Hợp tác xã này lại
“kết nghĩa” với một nông trang tập thể ở ngoại ô Moskva nên Đại sứ quán Liên Xô còn cử người đến
dự cho thêm phần long trọng. Và dĩ nhiên, còn có mặt cả đám phóng viên báo, đài...
Mở đầu cuộc mít tinh, đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã trịnh trọng đọc diễn văn khai mạc. Sau chừng 5
phút ề à “kính thưa” đủ mặt quan khách, đồng chí Bí thư hắng giọng, rồi ê a đọc bài diễn văn đánh
máy sẵn từ trên huyện gửi xuống:
"Hôm nay, cùng với toàn thể loài người tiến bộ, chúng ta họp mặt ở đây để kỷ niệm trọng thể lần thứ
một trăm ngày sinh đồng chí Sáu La Mã Lê Nin..."
Bà con xã viên ù ù cạc cạc, chỉ biết im lặng ngồi nghe. Còn trong hàng ghế quan khách, đặc biệt là
quan khách cấp thành phố và đám phóng viên, thì xôn xao, sửng sốt vì cái tên “Sáu La Mã” lạ hoắc
nọ.
Đợi mãi tới lúc Bí thư xã ngắc ngứ đọc xong bài khai mạc và tạm nghỉ giải lao, chàng phóng viên báo
Hà Nội mới nhanh tay chớp lấy bản đánh máy diễn văn mà ông ta vừa đọc. Mấy người tinh ý trong
đám quan khách thấy phóng viên nọ bỗng bịt chặt miệng, mặt đỏ rần, chạy vội vào hậu trường. Có
người tò mò chạy theo, bắt gặp anh chàng vừa cố nhịn cười, vừa chỉ tay vào bản đánh máy. Thì ra,
trong bản ấy, tên (Vladimir) và tên bố (Ilych - tức con ông Ilya) của Lênin được viết tắt là “V.I.”, đồng
chí Bí thư Đảng uỷ xã nhà ta chẳng biết mô tê gì, cứ thế “phang” bừa là... “Sáu La Mã Lê Nin”!
8. Bà con Lênin ở Việt Nam
Chuyện này cũng xảy ra vào dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Lênin vĩ đại, nhưng lại ở một xí nghiệp
nội thành Hà Nội.
Đồng chí Bí thư Đảng uỷ sau khi đọc trơn tru mấy văn bản soạn sẵn của Ban Tuyên huấn, bèn tỏ vẻ
hiểu biết, lên giọng hỏi những người dự mít tinh:
"Các đồng chí có biết Việt Nam ta có ai là bà con của lãnh tụ Lênin không?"
Một công nhân từng đi học nghề ở Liên Xô, mạnh dạn đứng lên đáp:
"Báo cáo Bí thư, theo tôi nghĩ, toàn thể đảng viên cộng sản Việt Nam đi theo đường lối Lênin đều là
bà con của Lênin!"
Cử toạ vỗ tay tán thưởng câu trả lời hóm hỉnh. Nhưng Bí thư Đảng uỷ bĩu môi, lắc đầu:
"Đồng chí vừa rồi mới nói chung chung thôi. Tôi biết trong Đảng ta còn có một người bà con Lênin
thật sự kia! Cho các đồng chí tiếp tục suy nghĩ năm phút nữa..."
Mọi người trố mắt nhìn nhau, ồn ào bàn tán. Năm phút trôi qua mà không thấy ai đứng dậy trả lời, Bí
thư Đảng uỷ mới đắc chí nói:
"Có thế mà cũng không nghĩ ra! Người bà con Lênin thực sự, đó chính là đồng chí Lê Duẩn kính mến
của chúng ta! Sao các đồng chí lại 'ồ' lên như vậy? Lênin họ Lê, đồng chí Lê Duẩn cũng họ Lê, vậy
chẳng bà con là gì?"
9. Chùm chuyện Phạm Tuân bay vào vũ trụ
a. Dễ biết quá
Ngày 24.7.1980, tàu “Liên hợp 37” chở nhà du hành vũ trụ Liên Xô V. V. Gorơbátcô và nhà du hành
vũ trụ Việt Nam Phạm Tuân bay vòng đầu tiên trên quỹ đạo trái đất. Lần đầu lên vũ trụ, Phạm Tuân
ngỡ ngàng nhìn xuống trái đất và luôn mồm hỏi: “Đây là đâu?”
Lần thứ nhất, Gorơbátcô chìa tay ra ngoài cửa sổ con tàu và đáp: “Đây là vùng Bắc cực”.
Lần thứ hai, Gorơbátcô lại chìa tay ra ngoài và đáp: “Đây là vùng xích đạo”.
Đến lần thứ ba Phạm Tuân hỏi, Gorơbátcô vẫn chìa tay ra ngoài, nhưng lại rụt ngay tay vào và cáu
kỉnh đáp: “Đây là cái nước Việt Nam nhà ngươi!”
Phạm Tuân ngạc nhiên: “Sao đồng chí biết giỏi vậy? Chìa tay ra ngoài, thấy lạnh nhiều thì biết là Bắc
cực, thấy nóng nhiều thì biết là xích đạo, chuyện đó thật dễ hiểu. Còn ở nước tôi, chẳng lạnh lắm mà
cũng chẳng nóng lắm, sao đồng chí chìa tay ra mà cũng biết được?”
"Tao bị... giật mất cái đồng hồ!"
b. Chỉ riêng Việt Nam
Đêm đầu tiên của chuyến bay, Gorơbátcô quan sát trái đất, rồi hỏi Phạm Tuân:
"Đồng chí hãy nhìn xem, khắp các nước trên thế giới đèn điện sáng trưng, riêng Việt Nam sao lại tối
thui vậy?"
"Chắc đêm nay nướ...
Trần Khốt
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Mục lục
Lời “rào” đầu
----- 1 ------
----- 2 ------
----- 3 ------
----- 4 ------
Trần Khốt
Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980)
Lời “rào” đầu
Mục lục
Lời “rào đầu”
Mách nước Diêm Vương
Nhất thế giới
Nhất trí 100%
Toà nhà không hố xí
Ăn qua loa
Hàng xuất khẩu đặc biệt
Đồng chí Sáu La Mã
Bà con Lênin ở Việt Nam
Chùm chuyện Phạm Tuân bay vào vũ trụ
Dễ biết quá
Chỉ riêng Việt Nam
Đồng hương trên vũ trụ
Đỏ tay và đỏ má
Câu hỏi định mệnh
Lên nhanh nhất và xuống nhanh nhất
Bộ ta có nhà máy gì?
Lệnh anh Ba
Vấn đề đầu tiên
Lý lịch vào khối SEV
Kít chê Đặng ngu
Phần Việt Nam...
Họ “Tôn Thất”
Cả ngày xếp hàng
Bạn học anh Ba
Tin vào Đảng...
Một phần ba
“Bảng đỏ, sao vàng”
Chỉ cần ném...
Ai được dân thích nhiều hơn?
Ba thủ lợn
Chuyện lương...
Đầy tớ nhân dân
Đưa hình đi đâu?
Quái vật Thái Bình Dương
Nhại thơ, hoạ thơ Tố Hữu
“Ngang” như... Nguyễn Tuân
Bãi lầy đo tội
Tranh, tượng biết nói
Ba con vẹt
Người mới
Quốc ca mới
Dọn nhà
Có anh Ba... Lăm
Mong sống lâu
Lẫn
Không có ba cây...
Hoài Thanh mất tích
Ngọc Hoàng cũng khóc
Lại chuyện Ngọc Hoàng cũng khóc
Theo lời các cụ
Môn thi đấu mới
Tin kỳ cục trên trần
Địch sao nổi!
Bốn tấm hình
Con trai anh Năm
Rùa ngựa, ngựa rùa
Ám chỉ ai?
Xứng đáng là tổng bí thư
Phụ lục
Vè “tiêu cực” và dăm chuyện đặt vè
Báo Đảng sợ... vè “tiêu cực”
Vè chợ búa
Vè lương tháng
Vè giáo dục
Vè làng văn
Vè Phạm Tuân
Vài chuyện tiếu lâm Sài Gòn trước năm 1975
Cầu Thượng đế phù hộ
Dân chúng đỡ khổ
Ông bầu
Tranh khoả thân
Dọn nhà
Vài chuyện tiếu lâm chính trị Trung Quốc, Liên Xô, Đức
TRUNG QUỐC
Mao Chủ tịch nói...
LIÊN XÔ
Chùm chuyện tiếu lâm thời Khơrútsốp
Khơ chết ngất
Khơ sợ “tệ sùng bái cá nhân Khơrútsốp”
Bội thu và thất thu
Xêđenban mặc áo mưa
Quỷ sứ cũng phải sợ
Chùm chuyện tiếu lâm thời Brrzhnev
Dân say bét nhè
Đồ dối trá
Chưa tỉnh hôn mê
Không sợ chuyện tiếu lâm
Người kế nhiệm
ĐỨC
Chùm chuyện tiếu lâm thời Hítle
*
Lời “rào” đầu
Tiếu lâm nói chung và tiếu lâm chính trị nói riêng là thể loại văn học dân gian truyền miệng tồn tại lâu
đời ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam ta. Tuy nhiên, trong cuốn sách “mini” này, người sưu tầm (nói
cho đúng hơn: người nghe và ghi) chỉ dám “khoanh vùng” mảng tiếu lâm chính trị năm 1980. Có hai
lý do khiến tôi làm như vậy. Thứ nhất, đó là năm ở ta rộ lên nhiều chuyện tiếu lâm chính trị (hệ quả
hiển nhiên của thời kỳ trì trệ trước khi cả nước bước vào vận hội Đổi mới). Thứ hai, đó cũng là năm
tôi gặp “hoạ”, có tới mấy tháng phải nằm bẹp tại Bệnh viện Trưng Vương và Viện Điều dưỡng (Tp.
Hồ Chí Minh). Thế nhưng, trong “hoạ” lại có... “phúc”. Đúng mấy tháng dài nằm viện ấy, tôi được dịp
làm quen với nhiều cán bộ mọi miền. Và điều đáng nói là chính họ đã kể cho tôi cùng đám bạn chung
cảnh ngộ nghe đủ thứ chuyện tiếu lâm, mà đa phần là tiếu lâm chính trị. Giữa lúc ngay cả bệnh nhân
cán bộ cũng phải chia sẻ tình trạng thiếu thuốc, thiếu ăn với bà con dân thường thì những mẩu chuyện
tiếu lâm cùng những câu vè mà bọn tôi rỉ rả kể cho nhau nghe quả là liều thuốc và món ăn tinh thần vô
giá.
Gần ba chục năm trôi qua, vậy mà tôi vẫn nhớ như in người kể chuyện tiếu lâm nhiều nhất, hóm hỉnh
nhất (và cũng là người tôi thân thiết nhất) ở Khoa Nội cán bộ [1] hồi ấy là bác Lương Nhân, hoạ sĩ đa
tài của Đoàn Cải lương Nam bộ. Chiều chiều, khi cơm nước xong xuôi, tôi cùng số bệnh nhân túc tắc
đi lại được thường mời bác Lương Nhân ra vườn hoa để nghe bác kể chuyện. Bác kể chuyện cười
nhưng chính bác lại không hề nhếch mép cười, có chăng chỉ “diễn” thêm bằng cặp mắt ranh mãnh và
cái miệng móm xọm. Cách kể “tỉnh khô” ấy càng khiến bọn tôi cảm thấy tức cười hơn. Bởi vậy nên
mới có chuyện một bệnh nhân, tên Ẩn, không ít lần phải chắp tay lạy bác Lương Nhân khi vừa thấy bác
lò dò đến bên giường mình: “Con van bác! Bác mà kể tiếu lâm lúc này là con phải kêu cấp cứu đó!”.
Anh Ẩn không nói giỡn. Những người mắc bệnh hen suyễn như anh, tôi và cả bác Lương Nhân nữa, hễ
cười nhiều là lập tức lên cơn khó thở. Mà bác Lương Nhân đã kể thì đố ai nín được cười…
Chính bác Lương Nhân là người bảo tôi nên ghi lại chuyện tiếu lâm. Bác rủ rỉ: “Chú em là nhà báo,
chú nên ghi lại mọi chuyện tiếu lâm truyền miệng để lớp con cháu đời sau biết rõ ông cha chúng đã
sống và cười trong gian khó như thế nào. Chú em cứ mạnh dạn ghi đi, nghe gì ghi nấy thôi mà…” Tôi
gãi tai, vờ thoái thác: “Nhiều chuyện đụng chạm ghê gớm, con hãi lắm bác ơi! Chỉ nghe thôi đã hãi
rồi, bây giờ lại ghi ra giấy trắng mực đen, tang chứng - vật chứng rành rành, con ủ tờ là cái chắc!”.
Bác Lương Nhân cũng vờ quắc mắt, nạt: “Sao hèn vậy mầy! Nếu người xưa ai cũng sợ ở tù như mầy,
thời nay đâu còn được đọc Sử ký Tư Mã Thiên, Truyện Trạng Quỳnh, Thơ Hồ Xuân Hương…? Nội
chuyện ông Trạng Quỳnh nhà ta cùng nhiều vị sĩ phu khác dám lỡm và chửi thẳng đám vua quan đồi
bại, bây giờ đọc lại vẫn thấy 'đã' và vẫn thấy... thời sự! Mầy ghi đi. Qua [2] sẽ vắt óc nhớ lại mọi
chuyện, rồi kể lai rai cho mầy ghi. Ghi sao cho hay là việc của mầy”. Nghe bùi tai nhưng, thú thật, tôi
vẫn... hãi. Như đọc được ý nghĩ của gã nhà báo gầy quắt, bác Lương Nhân chậm rãi nói tiếp: “Qua chỉ
bảo mầy ghi thôi mà. Đăng báo hoặc ra sách tiếu lâm chính trị lúc này thì quả là nằm mơ giữa ban
ngày! Thế nhưng vài chục năm nữa, biết đâu…”
Tôi “chịu đèn” và từ hôm ấy, bắt đầu hí húi ghi ghi chép chép những chuyện tiếu lâm mà bác Lương
Nhân và vài bệnh nhân khác đã kể “lai rai”. Chỉ sau một thời gian ngắn, cuốn sổ tay đóng bằng giấy in
báo vàng khè đã dày đặc những con chữ nhỏ xíu. Ở ngay trang đầu, tôi nắn nót ba hàng chữ:
Tiếu lâm chính trị
Tài liệu tham khảo
(Mật – Không phổ biến)
Chưa thật yên tâm, tôi còn viết thêm lời “rào trước” với ngôn từ quen thuộc của cán bộ tuyên huấn
thời ấy:
“Gần đây, nghe nhiều chuyện 'tiếu lâm chính trị', cảm thấy đau lòng. Ai là tác giả thứ chuyện độc
hại này? Trước hết, đó là những phần tử bất mãn trong hàng ngũ cán bộ ta, đặc biệt là đám tự xưng
'sĩ phu Bắc Hà' (hầu hết chuyện tiếu lâm chính trị và vè đều có xuất xứ Hà Nội). Kế đến, là bọn
tâm lý chiến đế quốc và bành trướng. Tôi đã phát hiện một số chuyện được 'chế' từ mấy tập truyện
cười xuất bản ở Sài Gòn trước ngày giải phóng hoặc 'cóp' chuyện tiếu lâm nước ngoài (xem phần
Phụ lục).
Nghe nói Ban Tuyên huấn Trung ương đang cho người sưu tầm tiếu lâm chính trị để nghiên cứu.
Từng là cán bộ tuyên huấn, tôi thấy mình cần tham gia cuộc sưu tầm bổ ích ấy. Việc này lại càng
thuận lợi hơn khi bệnh tật đang buộc tôi phải tạm ngưng công tác chuyên môn…
Bệnh viện Trưng Vương, tháng 4-1980”
Giờ đây, một ngày đầu tháng 3-2007, tôi lại cầm trên tay cuốn sổ đã ố vàng nhưng vẫn còn rõ ràng
mọi chữ ghi trong đó. Phải nói ngay rằng suốt 27 năm qua, tôi mới chỉ cho đúng ba người đọc cuốn
Tiếu lâm chính trị này. Một trong ba người ấy, bà bạn học N.P.M., cán bộ tuyên huấn cấp cao, đã giúp
tôi chuyển bản chép tay gần hai chục chuyện tiếu lâm tiêu biểu (và gai góc nhất) cho mấy vị cần
nghiên cứu. Như vậy, tôi đã giữ đúng lời hứa nêu trong lời “rào trước” kể trên. Chỉ tiếc rằng trong số
ba người tôi tận tay đưa đọc cuốn Tiếu lâm chính trị, lại không có bác Lương Nhân, vì bác đã qua
đời ngay tại Bệnh viện Trưng Vương trước khi tôi kịp hoàn tất cuốn sách. Dẫu thế, cho đến tận nay, tôi
vẫn nhớ câu bác nói khi ấy: “Đăng báo hoặc ra sách tiếu lâm chính trị lúc này thì quả là nằm mơ giữa
ban ngày. Thế nhưng vài chục năm nữa, biết đâu…”
Thưa bác Lương Nhân, bây giờ cái “vài chục năm nữa” ấy đã qua rồi. Và không còn là chuyện “nằm
mơ giữa ban ngày” nữa khi mới đây thôi, bốn vị hào kiệt Nhân văn-Giai phẩm là Hoàng Cầm, Trần
Dần, Phùng Quán và Lê Đạt đã được tặng Giải thưởng Nhà nước… Cũng không phải là chuyện “nằm
mơ giữa ban ngày” nữa khi từ tháng 6.2006, ngay tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở giữa thủ đô, đã
có cuộc triển lãm hi hữu mà đến tận nay vẫn còn mở cửa: “Hà Nội thời bao cấp, 1976-1986”. Nhiều
hiện vật sống động và… nhếch nhác của cả một thời khốc liệt đã được trưng bày, đi ngược lại với
quan niệm của người xưa và không ít người nay: “Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”. Dám “phô ra” giữa
thanh thiên bạch nhật cái “xấu xa” của một thời chưa xa, các vị làm bảo tàng ấy hẳn là có “tư duy
mới” và có dũng khí... “mó dái ngựa”. Có lẽ họ thầm hiểu rằng việc phô ra cái “xấu xa” trong quá khứ
cũng chính là cách tô đậm thêm cái “tốt đẹp” của thời hiện tại, cho dù cái tốt đẹp này đang cần nhiều
chăm bẵm... Thế nhưng đông đảo người xem, đặc biệt là lớp người xem đứng tuổi như tôi, vẫn cảm
thấy ở triển lãm ấy còn thiêu thiếu một cái gì đó. Và theo tôi, cái “thiêu thiếu” ấy chính là vô số
chuyện tiếu lâm chính trị gai góc, vô số câu vè chua cay từng “nở rộ” suốt cả thời bao cấp, cái thời
mà đời sống hầu hết dân chúng được một “vè sĩ” khái quát thật tài tình: Ăn như nhà tu, ở như nhà tù,
nói như lãnh tụ. Tiếu lâm chính trị và vè cũng chính là thứ “hiện vật” cần được “phô ra” tại triển lãm
ấy. Vâng, nếu tôi là người đứng ra tổ chức triển lãm, tôi sẽ không ngần ngại dành hẳn một gian để bù
đắp cái “thiêu thiếu” mà người xem đã tinh tế cảm nhận. Có thể, tại gian triển lãm đó, tôi sẽ mời một
số danh hài “diễn” lại một số chuyện tiếu lâm đặc sắc, như các nghệ sĩ Tiệp Khắc, Hungari từng làm
hồi cuối năm 1989 mà tôi đã được chứng kiến tận mắt, và cũng như các nghệ sĩ Việt Nam ta từng diễn
trong tiết mục “Thư giãn” của VTV3 mỗi chiều chủ nhật… Có thể, tôi sẽ tặng người xem những trang
giấy A4 in sẵn dăm chuyện tiếu lâm và vài câu vè nổi tiếng… Có thể, với người xem sẵn tiền, tôi sẽ
mời họ mua mấy cái CD ghi lại một số chuyện tiếu lâm và câu vè chọn lọc… Có thể, ngay tại gian
triển lãm, tôi sẽ cho phát qua hệ thống loa (âm thanh nổi) nội dung các CD ấy để mọi người cùng
nghe, cùng cười... Có thể… Có thể... Có thể... Chẳng biết đó có phải lại là “nằm mơ giữa ban ngày”
hay không, nhưng rõ ràng tôi đang chuẩn bị cho giấc mơ ấy trở thành hiện thực bằng việc “phô ra”
cuốn Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980).
Trong cuốn sách mỏng này, ngoài phần chính là 58 chuyện tiếu lâm chính trị được chọn lọc và chú
thích kỹ lưỡng, còn có thêm phần Phụ lục (22 chuyện) gồm “Vè 'tiêu cực' và dăm chuyện đặt vè”,
“Vài chuyện tiếu lâm Sài Gòn trước năm 1975” và “Vài chuyện tiếu lâm chính trị Trung Quốc, Liên
Xô, Đức”.
Điều cần lưu ý là phần lớn chuyện tiếu lâm chính trị mà tôi ghi được trong năm 1980 (năm có nhiều lễ
kỷ niệm lớn và nhiều sự kiện quan trọng) đều mang tính thời sự rất cao. Chẳng hạn, khi vừa hay tin
Phạm Tuân “quá giang lên vũ trụ” [3] , lập tức các “sĩ phu dân gian” cho ra lò loạt tiếu lâm và vè “ăn
theo”. Tuy nhiên, cũng có một số chuyện và vè “phát sinh” từ trước năm 1980 (tỷ như chuyện “Toà nhà
không hố xí”), nhưng tới năm 1980 bà con ta vẫn hay kể lại và tôi vẫn cứ ghi. Tôi còn ghi thêm đôi ba
chuyện nghe được trong năm 1981...
Tôi cũng xin thưa rằng ngoại trừ một số chuyện tiếu lâm “chế” hoặc “cóp” như tôi từng phát hiện và
đưa vào phần Phụ lục, hầu hết số còn lại đều thấm đẫm chất thâm thuý - đặc trưng của dòng văn học
dân gian truyền miệng có “sức chảy” ghê gớm, băng qua mọi “ghềnh thác” cường quyền. Đương nhiên,
số chuyện tiếu lâm chính trị và vè tôi đã “nghe và ghi” vỏn vẹn trong năm 1980 mới chỉ chụp “cắt
lớp” được một “tầng mỏng” của dòng văn học tuy dân dã song cũng rất mực uyên thâm ấy...
Kể chuyện tiếu lâm tài tình như bác Lương Nhân đã khó, ghi lại cho hay lời kể “tỉnh khô” đó cũng khó
chẳng kém. Dù tôi đã hết sức cố gắng nhưng nếu có chuyện nào ghi chưa thật “đã” thì kính mong quý
vị “sĩ phu dân gian” ngày xưa cùng quý vị bạn đọc ngày nay rộng lòng châm chước.
Chuyện tiếu lâm thường có dị bản, mỗi người nghe lại hay “thêm mắm thêm muối” khi kể lại cho
người khác, thế nên tình trạng “tam sao thất bản” khó tránh khỏi. Có khi một chuyện, tôi lại được nghe
mấy người kể, mỗi người lại kể một khác, nên tôi phải chọn những tình tiết “đắt” nhất để ghi lại...
Trong nhiều chuyện, cái thực và cái hư đan xen lẫn lộn, song tôi vẫn ghi cả hai để bạn đọc “rộng
đường dư luận”. Quả là tôi vẫn chưa quên lời bác Lương Nhân: “... nghe gì ghi nấy thôi mà...” Viết
đến đây, tôi lại sực nhớ đến câu chuyện bi hài liên quan đến một bậc trưởng lão trong làng văn Việt
Nam - cụ Nguyễn Công Hoan. Số là tác giả Bước đường cùng đã bị “cạo” khi vừa đăng trên báo Văn
nghệ mấy bài đầu rút từ cuốn hồi ký chưa công bố, với tựa đề: Nhớ gì ghi nấy. Vậy mà chính cái tựa
đề hiền khô ấy lại bị hạch tội ngay giữa thời “chống xét lại”. Một vị lãnh đạo tuyên huấn đã đăng đàn
phê phán, đại ý: “Phải viết có lập trường giai cấp, theo đúng đường lối của Đảng, chứ không thể viết
theo kiểu 'nhớ gì ghi nấy' sặc mùi khách quan tư sản...” Dẫu vậy, Trần Khốt này vẫn bảo vệ “lập
trường” nghe gì ghi nấy khi “phô ra” cuốn Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980) này...
Lời “rào” đầu đã khá dài, song tôi vẫn thấy mình cần “rào” thêm đoạn cuối:
Vì muốn ghi lại trung thực những chuyện tiếu lâm lưu truyền rộng rãi trong dân gian thời bao cấp, tôi
đã giữ nguyên tên hoặc bí danh một số vị lãnh đạo thời đó, đồng thời không né tránh tên Đảng (viết
hoa), cho dù việc liều lĩnh ghi trên giấy trắng mực đen như vậy có thể bị khép vào tội “phạm huý” và
“phạm thượng”. Nhưng biết làm sao được khi dân gian đã lưu truyền như thế và ở nhiều nước người ta
cũng “phạm huý”, “phạm thượng” như thế? Nhân đây, tôi cũng xin thưa thêm chuyện này: Một lãnh tụ
nổi tiếng nước ngoài, ông L.I. Brezhnev, cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, từng “được” giới
“sĩ phu dân gian” Liên Xô và Đông Âu đặt khá nhiều chuyện tiếu lâm chua cay (xem phần Phụ lục).
Nhưng điều thật lạ là con người thường bị báo chí phương Tây gọi là “độc tài khét tiếng” ấy lại chưa
hề tống đi Sibiri bất kỳ người sáng tác tiếu lâm chính trị nào! Trái lại, những người đặt chuyện hay
còn được ông... tặng quà. Chẳng những thế, ông còn đích thân kể chuyện tiếu lâm chế giễu chính mình
cho các vị lãnh đạo nước ngoài cùng nghe và cùng cười. Chuyện hi hữu này đã được đăng trên tờ báo
của Bộ Công an có rất nhiều người đọc: An ninh Thế giới, ngày 18.12.2006. Dù không dám “nằm mơ
giữa ban ngày” nhưng tôi vẫn mong sao các bạn làm công tác an ninh tư tưởng ở ta hôm nay cũng cần
tham khảo (và học tập, nên lắm chứ?) cách ứng xử của vị lãnh tụ Xô-viết ngày xưa. Cả thời xưa lẫn
thời nay, cả ở trong nước lẫn ngoài nước, việc đặt và kể chuyện tiếu lâm hoặc vè chẳng qua chỉ là
cách “xả stress” khá... hiền lành. “Xả” đỡ nguy hơn “nổ” nhiều lắm...
Sài Gòn - Tp. Hồ Chí Minh, đầu Xuân 2007
Trần Khốt
*
[1]Khoa
nội dành cho cán bộ sơ-trung cấp (Các chú thích đều của Trần Khốt)
[2]Cách xưng hô
[3]Thơ
[4]Thế
thân mật của người Nam bộ cao tuổi, có thể hiểu là “bác”, “chú”, “tao”...
Bến Nghé, báo Sài Gòn Giải phóng
giới thứ ba là thế giới các nước nghèo, hai thế giới còn lại là thế giới các nước xã hội chủ
nghĩa và thế giới các nước tư bản chủ nghĩa.
[5]Tức
tầng trệt, như người Nam thường gọi. Các tầng kế tiếp là lầu một, lầu hai, lầu ba...
Trần Khốt
Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980)
----- 1 -----1. Mách nước Diêm Vương
Ba cán bộ Việt Nam cỡ lớn nọ khi chết liền bị Diêm Vương sai quỷ sứ điệu đến hỏi tội. Cả ba đều
phạm quá nhiều tội với dân, với nước nên Diêm Chúa quyết định trừng trị bằng hình phạt nặng nhất ở
chốn âm ty: ném xuống vạc dầu.
Hôm thi hành bản án, quỷ sứ ném cán bộ thứ nhất xuống vạc dầu sôi sùng sục. Nhưng lạ thay, kẻ tử tội
vẫn sống nhăn. Ông ta được lôi lên và cán bộ thứ hai bị ném xuống. Kết quả vẫn như vậy: vạc dầu của
Diêm Vương bất lực. Đến cán bộ thứ ba cũng thế!
Diêm Vương nổi cơn lôi đình.
Một cận thần của Diêm Vương, vốn từng sống và làm việc lâu năm ở Việt Nam, bèn ghé tai Diêm
Vương, tâu nhỏ: “Xin cứ ném cả ba xuống cùng một lúc”.
Diêm Vương y lời.
Kết quả, khi vừa xuống vạc dầu, ba cán bộ Việt Nam nọ đã… cắn nhau chết tươi.
2. Nhất thế giới
Để dư luận thế giới chú ý đến nạn đói đang hoành hành ở nhiều nước thuộc thế giới thứ ba [4] , Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO) của Liên Hiệp Quốc quyết định mở cuộc thi vẽ lớn với đề
tài: cảnh đói khát khủng khiếp nhất.
Nhiều hoạ sĩ nổi tiếng thuộc các nước nghèo sôi nổi tham gia cuộc thi. Họ cố mô tả thật sắc nét tình
trạng đói khát cùng cực ở đất nước mình, đặng tranh thủ sự trợ giúp của các nước giàu. Tuy nhiên, lọt
vào vòng chung kết chỉ có tranh của hoạ sĩ ba nước : Ấn Độ, Campuchia và Việt Nam. Ba bức tranh
này được đưa ra xét kỹ tại một hội đồng giám khảo quy tụ nhiều hoạ sĩ bậc thầy.
Tranh Ấn Độ được xét đầu tiên. Mọi người trầm trồ tán thưởng bức tranh vẽ hai người Ấn gầy giơ
xương đang tranh nhau một miếng thịt bò. Chủ tịch Hội đồng Giám khảo nhận xét: “Người Ấn tôn thờ
bò. Vậy mà giờ đây, họ chẳng những mổ bò làm thịt, mà còn tranh nhau từng miếng thịt nhỏ. Qua đó đủ
biết ở Ấn Độ, tình trạng đói khát ghê gớm đến mực nào!” Bức tranh được toàn thể Hội đồng Giám
khảo nhất trí tặng giải ba.
Đến lượt bức tranh Campuchia đưa ra, mọi người rùng mình khi thấy một người Khmer, nom hệt bộ
xương, đang ngồi trên đống xương khô (nạn nhân thời Pol Pot), hai tay cầm đầu ống xương cho vào
mồm, má hóp lại để cố mút chút tuỷ may ra còn sót lại. Sau một hồi bàn cãi, các vị giám khảo biểu
quyết bức tranh thê thảm ấy được giải hai.
Còn bức tranh của Việt Nam ta? Cả phòng ồ lên sửng sốt khi người ta giới thiệu bức tranh. Và không
hề bàn cãi một lời, toàn thể Hội đồng Giám khảo nhất trí tặng nó giải nhất. Có ý kiến còn cho rằng nó
xứng đáng được trao giải đặc biệt...
Bức tranh Việt Nam ta hết sức giản dị: cái lỗ đít bị mạng nhện chăng đầy.
3. Nhất trí 100 %
Một hôm, sau ngày làm việc cực nhọc ngoài đồng, Trâu ta vừa nằm nhai cỏ, vừa ngẫm nghĩ sự đời.
Trâu thấy mình làm lụng chăm chỉ quanh năm suốt tháng, lại không hề kêu ca, đòi hỏi lấy nửa lời, rất
xứng đáng với danh hiệu “Lao động tiên tiến”. Nghe nói Đảng đang cần kết nạp những người “Lao
động tiên tiến” để tăng cường đội ngũ công nông, Trâu ta bèn quyết định nộp đơn xin vào Đảng.
Đơn của Trâu liền được đưa ra Chi bộ xem xét. Chi bộ nhận thấy đồng chí Trâu tuy làm việc rất đáng
được trao danh hiệu “Lao động tiên tiến”, nhưng lại kém thông minh, nên đơn bị bác.
Ngựa thấy Trâu làm đơn xin vào Đảng, liền bắt chước. Trong đơn, Ngựa viết: “So với đồng chí Trâu,
tôi chẳng những lao động không thua kém, mà lại thông minh hơn nhiều. Ngoài ra, tôi còn có thể làm
vật cưỡi cho các đồng chí lãnh đạo cấp cao dạo chơi...”
Chi bộ cũng xem xét ngay đơn xin vào Đảng của Ngựa. Mấy ưu điểm mà đồng chí Ngựa nêu trong đơn
đều được Chi bộ ghi nhận. Nhưng cuối cùng, đơn của Ngựa cũng bị bác với lý do chắc nịch: đồng chí
Ngựa có cú đá hậu rất độc, ảnh hưởng nặng nề đến đoàn kết nội bộ.
Thấy đơn của Trâu và Ngựa đều bị Chi bộ bác, Rệp và Muỗi liền làm đơn xin vào Đảng. Đơn của hai
đồng chí chuyên hút máu này viết hệt như nhau: “Tôi tuy chẳng phải là Lao động tiên tiến như đồng chí
Trâu và đồng chí Ngựa, nhưng bù lại, tôi có cái cơ bản mà hai đồng chí đó không thể có: trong huyết
quản của tôi từ bao đời nay đều có dòng máu công nông. Tôi cảm thấy mình hoàn toàn xứng đáng
được đứng trong hàng ngũ Đảng của giai cấp công nông...”
Đơn của đồng chí Rệp và đồng chí Muỗi được Chi bộ chấp nhận với sự nhất trí 100%.
4. Toà nhà không hố xí
Tại Hà Nội, một toà nhà bốn tầng mới xây thu hút nhiều người đến tham quan, vì nó được thiết kế khá
đẹp. Chỉ có điều rất lạ là suốt cả bốn tầng đều không hề có một hố xí nào. Mọi người xúm lại hỏi ông
kiến trúc sư và được ông giải thích như sau:
“Tầng một [5] dành cho nhà trẻ, các cháu đi ị vào bô. Tầng hai dành cho cán bộ cấp thấp, mọi người đi
ị ở cơ quan. Tầng ba dành cho cánh văn nghệ sĩ thì ị được bãi nào, họ nhét vào mồm nhau bãi ấy. Còn
tầng bốn dành cán bộ cấp cao, mấy vị ấy chỉ quen ị lên đầu thiên hạ. Bởi thế, chúng tôi xây hố xí làm
gì cho nó lãng phí?”
5. Ăn qua loa
Trong một lần “xuống cơ sở”, Bộ trưởng Bộ Lương thực-Thực phẩm Hồ Viết Thắng ghé thăm gia đình
bác nông dân nọ. Để bày tỏ sự quan tâm của thượng cấp, ông Bộ trưởng ân cần hỏi chủ nhà:
“Bà con ta ở đây lâu nay ăn uống ra sao?”
“Dạ, chúng tôi chỉ ăn uống qua loa thôi ạ.”
“Đề nghị bác cho tôi biết cụ thể ăn qua loa là ăn những món gì để tôi còn về báo cáo lên Trung ương
về thành tích cải thiện đời sống nông dân. Bữa ăn của bà con ta có đủ no không? Hằng ngày có thịt, có
cá chứ?”
“Thưa Bộ trưởng, tôi đã nói cụ thể lắm rồi mà! Nhiều năm nay, bà con chúng tôi chỉ ăn qua loa
thôi...”
Nói đến đây, bác nông dân liền chỉ tay lên... chiếc loa phát thanh công cộng đang đọc oang oang một
bài của báo Nhân dân thống kê vô số thành tích vượt bậc về sản xuất lương thực - thực phẩm, cải
thiện đời sống nhân dân, v.v...
6. Hàng xuất khẩu đặc biệt
Ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã miền núi nọ nhận được công văn “hoả tốc” từ trên tỉnh gửi xuống.
Ác một nỗi là công văn lại đánh bằng máy chữ không dấu nên ông bóp óc mãi, cũng chẳng đoán ra.
Công văn có đoạn viết:
“Thu mua gap 1.000 can long lon rung de xuat khau. Bay ngay nua co xe xuong nhan.”
Ba chữ “long lon rung” làm Chủ tịch xã nhà ta đau đầu nhất. Những chữ khác thì ông đoán đại khái
rằng trên tỉnh cần thu mua gấp 1.000 cân gì gì đó để xuất khẩu và bảy ngày nữa sẽ có xe xuống nhận.
Nhưng thứ hàng cần thu mua gấp là cái gì đây?
Nghĩ cả ngày không ra, đêm ông lại nằm vắt tay lên trán nghĩ tiếp. Ông cứ trằn trọc, khiến cô vợ trẻ
nằm bên cũng không ngủ được. Cáu quá, không thèm nghĩ nữa, ông quay ra... nghịch cái thân hình chắc
lẳn của cô vợ. Bàn tay ngứa ngáy của ông bắt đầu lục lạo hết bên trên lại bên dưới. Vừa lục lạo tới
chỗ đầy “lau lách”, ông Chủ tịch bỗng vỗ đùi vợ đánh “bách”, rồi reo lên như nhà bác học
Archimedes thời xưa: “Ồ, có thế mà cũng chẳng nghĩ ra!” Để cô vợ khỏi hỏi han lôi thôi chuyện quốc
gia đại sự, ông tiếp tục cùng nàng tận hưởng một trong “tứ khoái” trời cho, rồi sau đó cùng lăn ra...
ngáy.
Mờ sáng hôm sau, chỉ kịp rít vài hơi thuốc cho tỉnh ngủ, Chủ tịch xã đã hớt hải chạy qua nhà Chủ tịch
Hội Phụ nữ ở bên kia đồi và chìa cho bà ta xem cái công văn “hoả tốc” oái oăm nọ. Ông vừa cười ha
hả, vừa cắt nghĩa từng chữ cho bà nghe. Bà Chủ tịch Hội mới ngoài bốn mươi, mặt đỏ rần, nhìn bức
công văn nửa tin nửa ngờ. Đoán được ý bà, Chủ tịch xã nghiêm giọng nói:
“Chữ ký của đồng chí Chủ tịch tỉnh đây. Con dấu của Ủy ban Nhân dân tỉnh đây. Bà không nhận ra hả?
Công tác này đúng là của mấy bà, chẳng chạy vào đâu được!”
“Nhưng đào đâu ra cả tấn của nợ ấy đây?” - Chủ tịch Hội dấm dẳn hỏi. “Cả xã này chỉ có non ngàn
phụ nữ. Mà nhà ông thừa biết cái giống ấy đâu có nhiều nhặn gì...”
Chủ tịch xã cười ngặt nghẽo:
“Mặc xác các bà! Tôi chỉ biết cứ chiểu theo công văn mà làm. Bảy ngày nữa mà mấy bà không gom đủ
thì cứ liệu thần hồn. Bà không thấy ba chữ để xuất khẩu đó sao? Báo Nhân dân hôm nọ đăng xã luận
hô hào toàn dân thi đua sản xuất nhiều mặt hàng xuất khẩu để thu ngoại tệ, đặng làm giàu cho đất nước.
Cái thứ mà mấy bà phải gom đích thị là mặt hàng xuất khẩu đặc biệt của nước nhà đấy...”
“Nhưng mà xuất khẩu cái gì quý giá, chứ ai lại xuất khẩu cái giống khỉ gió ấy?” Mặt bà Chủ tịch Hội
lại đỏ như gấc.
“Này, nhà bà không biết thì đừng có ngứa mồm bàn vào chuyện quốc gia đại sự nhá! Tôi nghe người ta
bảo chính cái giống 'khỉ gió' ấy của mấy bà lại là thứ thuốc cầm máu hiệu nghiệm như thần đấy! Ông
Nhà nước thu mua thứ hàng này là chúa khôn. Chẳng mất công cấy trồng gì cả, cũng chẳng mất vốn
liếng gì cả, vậy mà,... ha... ha..., thu được ối ngoại tệ. Thôi, bà liệu mà đi vận động chị em. Công tác
đặc biệt chứ chẳng phải bỡn đâu! Bà nào gom được nhiều, xã sẽ tặng giấy khen. Ai chống đối, sẽ bị
trừng phạt...”
Bảy ngày sau. Một chiếc xe tải đỗ xịch trước trụ sở Ủy ban Nhân dân xã. Ông Chủ tịch, mặt tái mét,
chạy ra đón anh cán bộ thu mua của tỉnh.
Thôi chết rồi. Trên tỉnh phái hẳn một xe tải xuống để nhận hàng, vậy mà suốt cả tuần qua, các bà các
cô trong Hội Phụ nữ chạy long tóc gáy cũng chỉ mới thu được có... vài lạng. Biết ăn nói làm sao với
thượng cấp đây? Chủ tịch xã xun xoe mời cán bộ tỉnh uống trà, hút thuốc, mặt ông ta méo xệch...
Ngồi chưa nóng đít, anh cán bộ đã giục toáy:
“Đồng chí cho người chất hàng lên xe để chúng tôi ngược sớm.”
Chủ tịch xã đờ cả người, gãi đầu gãi tai, miệng lắp bắp:
“Báo cáo đồng... đồng... chí, thứ hàng trên... tỉnh... ra lệnh... thu... thu... mua... gay cho chúng...
chúng... tôi quá! Chúng tôi vận... vận... động toàn thể... chị... chị... em trong toàn xã... mà chỉ thu...
được... có... có... ngần... này...”
Anh cán bộ tỉnh há hốc mồm khi thấy ông Chủ tịch xã rụt rè lôi từ ngăn kéo bàn làm việc một... gói
giấy báo. Mở gói giấy ra, cán bộ nọ vội vàng lấy tay bịt mũi.
Chủ tịch xã cười như mếu và lắp bắp tiếp:
“Đồng... đồng chí thông... cảm cho chị... chị... em. Thật là... khổ, nhiều... chị... em không chờ được...
tới... lúc... rụng..., phải lấy... kéo... kéo... cắt... Vậy mà...”
Anh cán bộ thu mua vẫn chẳng hiểu ất giáp gì. Sao Chủ tịch xã lại toàn nói đến chị em, đến cái gì đó
rụng, đến kéo cắt? Thứ hàng cần thu mua để xuất khẩu đâu có dính dáng nhiều đến chị em như vậy?
Cảm thấy có chuyện lạ gì đây, anh ta đòi xem lại cái công văn “hoả tốc” mà trên tỉnh vừa gửi xuống
tuần trước. Chủ tịch xã vội vàng mở xà cột, lôi ra tờ công văn nhàu nát, nhưng vẫn còn nom rõ ba chữ
“long lon rung” được gạch đậm bên dưới bằng bút đỏ.
Cán bộ tỉnh xem kỹ tờ công văn, rồi hỏi Chủ tịch xã:
“Vậy đồng chí hiểu ba chữ mà đồng chí gạch dưới này là thứ hàng gì?”
Giương mục kỉnh, ông Chủ tịch xã bốc một nhúm “hàng xuất khẩu đặc biệt” lên nhòm, rồi hỏi lại:
“Thế cái hàng ấy chẳng phải là... là... lông... của... chị em... rụng... thì là... cái gì?”
Anh cán bộ thu mua trợn trừng mắt:
“Bố giết con rồi, bố ơi là bố! Cái thứ hàng mà con cần thu mua gấp là lông lợn rừng. Lông lợn rừng!
1.000 cân! Để xuất khẩu! Bố hiểu chưa?”
Chủ tịch xã không kịp nghe hết câu, đã lăn ra... chết giấc.
Trần Khốt
Tiếu lâm chính trị (Việt Nam, năm 1980)
----- 2 -----7. Đồng chí Sáu La Mã
Năm 1970, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Lênin, nhiều cuộc mít tinh lớn nhỏ được tổ chức
chẳng những ở Hà Nội, mà còn ở tất cả các tỉnh, thành, huyện, xã... Ngoài ra, còn có các cuộc mít tinh
cỡ “bỏ túi” ở khắp các cơ quan, trường học, xí nghiệp, hợp tác xã... Cả núi tài liệu về thân thế, sự
nghiệp Lênin vĩ đại đã được Ban Tuyên huấn Trung ương và tuyên huấn các cấp phổ biến rộng rãi
xuống tận cơ sở.
Cũng như mọi nơi khác, đúng ngày 22.4, một hợp tác xã nông nghiệp - được coi là “ngọn cờ đầu” của
ngoại thành Hà Nội - tổ chức cuộc mít tinh có cả ngàn xã viên tham dự. Hàng ngũ quan khách cũng khá
đông đảo: quan khách cấp xã, quan khách cấp huyện, quan khách cấp thành phố... Hợp tác xã này lại
“kết nghĩa” với một nông trang tập thể ở ngoại ô Moskva nên Đại sứ quán Liên Xô còn cử người đến
dự cho thêm phần long trọng. Và dĩ nhiên, còn có mặt cả đám phóng viên báo, đài...
Mở đầu cuộc mít tinh, đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã trịnh trọng đọc diễn văn khai mạc. Sau chừng 5
phút ề à “kính thưa” đủ mặt quan khách, đồng chí Bí thư hắng giọng, rồi ê a đọc bài diễn văn đánh
máy sẵn từ trên huyện gửi xuống:
"Hôm nay, cùng với toàn thể loài người tiến bộ, chúng ta họp mặt ở đây để kỷ niệm trọng thể lần thứ
một trăm ngày sinh đồng chí Sáu La Mã Lê Nin..."
Bà con xã viên ù ù cạc cạc, chỉ biết im lặng ngồi nghe. Còn trong hàng ghế quan khách, đặc biệt là
quan khách cấp thành phố và đám phóng viên, thì xôn xao, sửng sốt vì cái tên “Sáu La Mã” lạ hoắc
nọ.
Đợi mãi tới lúc Bí thư xã ngắc ngứ đọc xong bài khai mạc và tạm nghỉ giải lao, chàng phóng viên báo
Hà Nội mới nhanh tay chớp lấy bản đánh máy diễn văn mà ông ta vừa đọc. Mấy người tinh ý trong
đám quan khách thấy phóng viên nọ bỗng bịt chặt miệng, mặt đỏ rần, chạy vội vào hậu trường. Có
người tò mò chạy theo, bắt gặp anh chàng vừa cố nhịn cười, vừa chỉ tay vào bản đánh máy. Thì ra,
trong bản ấy, tên (Vladimir) và tên bố (Ilych - tức con ông Ilya) của Lênin được viết tắt là “V.I.”, đồng
chí Bí thư Đảng uỷ xã nhà ta chẳng biết mô tê gì, cứ thế “phang” bừa là... “Sáu La Mã Lê Nin”!
8. Bà con Lênin ở Việt Nam
Chuyện này cũng xảy ra vào dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Lênin vĩ đại, nhưng lại ở một xí nghiệp
nội thành Hà Nội.
Đồng chí Bí thư Đảng uỷ sau khi đọc trơn tru mấy văn bản soạn sẵn của Ban Tuyên huấn, bèn tỏ vẻ
hiểu biết, lên giọng hỏi những người dự mít tinh:
"Các đồng chí có biết Việt Nam ta có ai là bà con của lãnh tụ Lênin không?"
Một công nhân từng đi học nghề ở Liên Xô, mạnh dạn đứng lên đáp:
"Báo cáo Bí thư, theo tôi nghĩ, toàn thể đảng viên cộng sản Việt Nam đi theo đường lối Lênin đều là
bà con của Lênin!"
Cử toạ vỗ tay tán thưởng câu trả lời hóm hỉnh. Nhưng Bí thư Đảng uỷ bĩu môi, lắc đầu:
"Đồng chí vừa rồi mới nói chung chung thôi. Tôi biết trong Đảng ta còn có một người bà con Lênin
thật sự kia! Cho các đồng chí tiếp tục suy nghĩ năm phút nữa..."
Mọi người trố mắt nhìn nhau, ồn ào bàn tán. Năm phút trôi qua mà không thấy ai đứng dậy trả lời, Bí
thư Đảng uỷ mới đắc chí nói:
"Có thế mà cũng không nghĩ ra! Người bà con Lênin thực sự, đó chính là đồng chí Lê Duẩn kính mến
của chúng ta! Sao các đồng chí lại 'ồ' lên như vậy? Lênin họ Lê, đồng chí Lê Duẩn cũng họ Lê, vậy
chẳng bà con là gì?"
9. Chùm chuyện Phạm Tuân bay vào vũ trụ
a. Dễ biết quá
Ngày 24.7.1980, tàu “Liên hợp 37” chở nhà du hành vũ trụ Liên Xô V. V. Gorơbátcô và nhà du hành
vũ trụ Việt Nam Phạm Tuân bay vòng đầu tiên trên quỹ đạo trái đất. Lần đầu lên vũ trụ, Phạm Tuân
ngỡ ngàng nhìn xuống trái đất và luôn mồm hỏi: “Đây là đâu?”
Lần thứ nhất, Gorơbátcô chìa tay ra ngoài cửa sổ con tàu và đáp: “Đây là vùng Bắc cực”.
Lần thứ hai, Gorơbátcô lại chìa tay ra ngoài và đáp: “Đây là vùng xích đạo”.
Đến lần thứ ba Phạm Tuân hỏi, Gorơbátcô vẫn chìa tay ra ngoài, nhưng lại rụt ngay tay vào và cáu
kỉnh đáp: “Đây là cái nước Việt Nam nhà ngươi!”
Phạm Tuân ngạc nhiên: “Sao đồng chí biết giỏi vậy? Chìa tay ra ngoài, thấy lạnh nhiều thì biết là Bắc
cực, thấy nóng nhiều thì biết là xích đạo, chuyện đó thật dễ hiểu. Còn ở nước tôi, chẳng lạnh lắm mà
cũng chẳng nóng lắm, sao đồng chí chìa tay ra mà cũng biết được?”
"Tao bị... giật mất cái đồng hồ!"
b. Chỉ riêng Việt Nam
Đêm đầu tiên của chuyến bay, Gorơbátcô quan sát trái đất, rồi hỏi Phạm Tuân:
"Đồng chí hãy nhìn xem, khắp các nước trên thế giới đèn điện sáng trưng, riêng Việt Nam sao lại tối
thui vậy?"
"Chắc đêm nay nướ...
 





