TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH HAY CỦA THƯ VIỆN

VIDEO THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU ĐIỆN

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ THPT HỒNG LĨNH 🌐 Địa chỉ truy cập: https://tvthpthonglinh.violet.vn Website học liệu điện tử của Thư viện Trường THPT Hồng Lĩnh là một không gian số sáng tạo, hiện đại, nơi tri thức được số hóa và kết nối linh hoạt giữa thầy cô, học sinh và tài nguyên học tập chất lượng cao. Tận dụng sức mạnh của công nghệ, nền tảng này không chỉ lưu trữ mà còn phát triển các nguồn học liệu mở, giúp người dùng dễ dàng tìm kiếm, truy cập và chia sẻ tri thức mọi lúc, mọi nơi. Với giao diện thân thiện và chức năng thông minh, website là cầu nối giữa truyền thống và hiện đại – nơi sách vở, tư liệu và sáng kiến giảng dạy được "sống động hóa" qua các định dạng đa phương tiện, phục vụ hiệu quả cho việc dạy học và nghiên cứu. Đây chính là một mô hình thư viện số kiểu mới – gợi mở một tương lai học tập chủ động, sáng tạo và toàn diện.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png BANDOKINHTE.jpg HB_NHOMNUOC.jpg HB_MDDS.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg TDMNPB_tunhien.jpg

    KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

    💕💕 Đọc sách là luyện tâm như rèn kiếm – sắc bén và sáng suốt hơn sau mỗi lần tôi luyện💕Không có chiếc chìa khóa nào vạn năng bằng sách – nó mở được mọi cánh cửa tri thức.💕

    [Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1

    Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 18h:42' 05-04-2024
    Dung lượng: 642.3 KB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VỚI TRIỀU ĐÌNH TỰ ĐỨC
    Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
    Biên Khảo
    NXB Trẻ
    Ebook: Cuibap
    Nguồn Text: cailubietdi

    https://thuviensach.vn

    Lời Tựa
    Năm 2011, Đức giám mục Vinh - Nguyễn Thái Hợp có thiện ý muốn
    tổ chức kỷ niệm 140 năm (1871-2011) ngày qua đời của nhà yêu nước
    Nguyễn Trường Tộ ngay tại quê hương và phần mộ ở Xã Đoài, huyện Nghi
    Lộc, thành phố Vinh nay. Nhiều học giả đã tán thành và gửi bài tham luận.
    Rất tiếc năm 201 là năm có nhiều vấn đề nhạy cảm mà vấn đề Nguyễn
    Trường Tộ nằm trong số đó! Nên không có gì để kỷ niệm Nguyễn Trường
    Tộ cho đáng với một nhân vật lịch sử lớn như ông.
    Tôi cũng được vinh dự đóng góp một báo cáo nhỏ. Đó là bài Giả như
    kế hoạch đánh úp Gia Định của Nguyễn Trường Tộ được thi hành![1]. Tất
    nhiên, không có tọa đàm hay nghi thức kỷ niệm thì bài này không được ra
    mắt quý bạn đọc.
    Sau ngày 30.4.1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, giới Công giáo
    thành phố Hồ Chí Minh thường biểu lộ lòng mến quê hương với bài ca rất
    phổ biến Trước khi là Công giáo tôi là người Việt Nam. Công giáo hay
    không, đều là người Việt Nam, đều có nghĩa vụ và quyền lợi của một công
    dân trung thành với tổ quốc dân tộc.
    Thiển nghĩ Nguyễn Trường Tộ là nhân vật Công giáo nêu tấm gương
    yêu nước tuyệt vời ấy ngay từ thời "trung quân ái quốc", trong một giai
    đoạn lịch sử cực kỳ phức tạp và đen tối. Ông đã điều trần Tự do tôn
    giáo[2]là quyền thiêng liêng, nhưng nhiệm vụ phụng sự đất nước cũng là
    bất khả kháng. Ngay từ khi Công giáo truyền vào Việt Nam hơn 400 năm
    trước, một sáng kiến thần học đã lập thuyết Tam phụ tức phải tôn kính ba
    cha: Trời, (thượng phụ). Vua (trung phụ) và đấng sinh thành (hạ phụ). Như
    vậy, càng kính Chúa và hiếu hạnh thì càng phải "trung quân ái quốc". Lý
    thuyết đâu có trái nghịch với thực tế! Trong một điều trần, Nguyễn Trường

    https://thuviensach.vn

    Tộ giải thích về thuyết Tam phụ rất minh bạch và hấp dẫn, trước khi sáng
    tác điều trần Ngôi vua là quý, chức quan là trọng
    [3] . Tuy nhiên, với tư
    cách một thường dân tha thiết tới vận mệnh dân tộc, Nguyễn Trường Tộ đã
    đệ đạt lên triều đình Tự Đức những bài học lịch sử và thời sự quốc tế nhằm
    canh tân xứ sở và cứu nguy dân tộc.
    Nhân dịp kỷ niệm này, tôi đã mạo muội viết một số bài trên tuần báo
    Công giáo và Dân Tộc ngõ hầu giới thiệu Nguyễn Trường Tộ như một tấm
    gương ái quốc chói sáng cho tín hữu chúng tôi. Từ xưa đến nay đã có nhiều
    học giả hay tác giả viết về Nguyễn Trường Tộ. Tôi đã học hỏi được nhiều,
    song tôi không thể trích dẫn hết các điều trần và những nhận xét sâu sắc
    của quý vị. Tôi chỉ dám lựa chọn một góc nhỏ: Nguyễn Trường Tộ với triều
    đình Tự Đức (1861-1871) và đặc biệt sử dụng tư liệu tổng hợp về Nguyễn
    Trường Tộ của Trương Bá Cần[4]cùng bộ chính sử Đại Nam thực lục chính
    biên[5].
    Chúng ta đều biết khoảng giữa thế kỷ XIX, sau khi thôn tính được
    nhiều thuộc địa trên thế giới, đế quốc Pháp khởi công xâm chiếm nước ta
    và các tiểu quốc thuộc quyền bảo hộ Việt Nam ở Đông Dương, với lý do
    Việt Nam không tôn trọng tự do tôn giáo! Ngày 19.6.1988, Tòa thánh
    phong hiển thánh cho 117 tín hữu, mà dưới ba triều Minh Mạng - Thiệu Trị
    - Tự Đức có tới 111 vị (58+3+50) tuẫn tử trong thời gian từ 1833 đến 1862.
    Đó là những năm Pháp đem tàu chiến và quân lực đến uy hiếp và đánh phá
    Việt Nam. Tín hữu hy sinh thực sự vì trung thành với đức tin, nhưng chính
    quyền cấm đạo và tàn sát tín hữu có lẽ vì lý do chính trị hơn tín ngưỡng.
    Tôi đã cố giải thích khúc mắc này qua tập sách nhỏ Tiểu sử Cha Khâm Đặng Đức Tuấn[6].
    Dẫu chỉ lựa chọn nghiên cứu vấn đề ở một góc hẹp và đa phần là trích
    dẫn các tư liệu chính xác, nhưng chúng tôi vẫn thành thực xin quý độc giả
    nhắc nhở cho biết những gì còn sai nhầm hay thiếu sót. Xin trân trọng cám
    ơn.
    Cuối thu năm 2012
    Nguyễn Đình Đầu

    https://thuviensach.vn

    Danh nhân Nguyễn Trường Tộ qua đời ngày 22.11.1871, đến nay đã
    142 năm. Lịch sử đã ghi nhận ông là một sĩ phu bày mưu tính kế giải phóng
    dân tộc từ buổi đầu Pháp xâm chiếm nước ta và đạo đạt phương lược canh
    tân xứ sở trước cả thời Nhật với Minh Trị Thiên Hoàng.
    Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830, con cụ lang Nguyễn Quốc Thủ, tại
    thôn Xã Đoài nay thuộc huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Xã Đoài là thôn
    theo đạo Công giáo từ lâu đời. Năm 1846, giáo phận Vinh (nguyên gọi là
    Tây Đàng Ngoài) được thành lập với Giám mục tiên khởi là Gauthier Hậu.
    Ngài liền lấy Xã Đoài làm trụ sở. Khi ấy Nguyễn Trường Tộ 16 tuổi đã
    thông thạo nho học với tứ thư ngũ kinh, với sử sách Đông phương và đất
    nước, lại được mệnh danh là "trạng Tộ". Ông mở trường dạy học tại gia.
    Đức cha Hậu biết ông Tộ là người tài đức, liền mời ông làm thầy dạy các
    chủng sinh của giáo phận. Đồng thời ông Tộ cũng nhờ cậy Đức cha Hậu,
    học thêm tiếng Pháp và nghiên cứu nền văn minh Tây phương cùng lịch sử
    đổi thay của các quốc gia trên thế giới, kể cả sự tiến bộ về khoa học và kỹ
    thuật.
    Tình hình đạo đời đương thời hầu như thúc bách Nguyễn Trường Tộ
    trau dồi thêm nhiều kiến thức: Năm 1833 Minh Mạng ban hành chỉ dụ cấm
    đạo khắc nghiệt sau vụ nổi loạn Lê Văn Khôi mà khi tái chiếm thành Gia
    Định bắt được cố Marchand Du cùng một số ít giáo dân ở trong. Dưới thời
    Thiệu Trị nối ngôi từ 1841 đến 1847, việc cấm đạo được nới nhẹ hơn. Tuy
    nhiên, từ khi Tự Đức lên ngôi năm 1848, nhiều nước Tây phương kể cả
    Hoa Kỳ, nhất là Pháp, đến xin mở cửa giao thương. Pháp xin thêm trả tự do
    cho các vị thừa sai Tây phương và cho truyền giáo. Đôi lần Pháp đem cả
    chiến thuyền đến thị oai. Tự Đức thấy đó là mưu đồ đế quốc xâm chiếm
    nước ta, nên càng bế quan tỏa cảng và ráo riết cấm đạo.
    Năm 1858, Pháp kết hợp với Tây Ban Nha - nước có nhiều giáo sĩ ở
    giáo phận Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình...) - đem
    chiến thuyền đến đánh phá Cửa Hàn (Đà Nẵng) và tìm đường ra chiếm kinh
    đô Huế. Tự Đức liền ra chỉ dụ trảm quyết hết giáo sĩ kể cả bản quốc và
    phân sáp toàn thể giáo dân. Đức cha Hậu (Gauthier) - giám mục đại diện
    Tông tòa coi sóc giáo phận Vinh và Nguyễn Trường Tộ đành phải sang
    https://thuviensach.vn

    Hồng Kông lánh nạn. Đây cũng là dịp Nguyễn Trường Tộ xuất dương để
    mắt thấy tai nghe những hiện tượng lớn lao làm thay đổi tình hình thế giới.
    Ông đọc thêm "tân thư" mà Trung Quốc dịch thuật từ sách tiến bộ Tây
    phương. Ông được tiếp xúc và đàm đạo sâu sắc với giới thức giả Đông
    phương và Tây phương kể cả mục sư Tin Lành tân tiến. Ông kiểm nghiệm
    giữa kiến thức đã thâu thái với thực tế diễn biến đương thời. Tất nhiên ông
    đặc biệt chú ý đến những gì liên quan đến đất nước và con người Việt Nam.
    Có lẽ ông cũng có dịp tham quan Tân Gia Ba và Pênăng. Hai nơi này đều là
    thuộc địa của Anh giống như Hương Cảng và là những trung tâm giao
    thương quốc tế bắt đầu phát triển theo mô hình tư bản Tây phương. Ông
    cùng Giám mục Hậu trở về Sài Gòn năm 1861.
    Chúng ta biết rằng năm 1858 Pháp và Tây Ban Nha đánh phá Cửa
    Hàn, nhưng thất bại, nên năm sau tức 1859 kéo quân vào Nam xâm chiếm
    thủ phủ Gia Định (Sài Gòn). Suốt hai năm từ đầu năm 1859 đến đầu năm
    1861, Pháp chịu nhiều khốn đốn mới chiếm đóng được một phần nhỏ Sài
    Gòn vì phải rút quân sang Trung Hoa chinh chiến. Khi chiến tranh giữa
    Trung Hoa và liên quân Anh - Pháp chấm dứt, Đô đốc Charner đem một
    đội quân hùng hậu tới đánh phá đại đồn Chí Hòa do thống tướng Nguyễn
    Tri Phương chỉ huy, rồi mở rộng thêm nhiều khu chiếm đóng. Charner đã
    mời Giám mục Hậu về Sài Gòn, Nguyễn Trường Tộ cũng về theo. Charner
    nhận ông Tộ làm thông dịch viên. Ông làm việc này với thâm ý lèo lái sự
    việc cho có lợi về phía Việt Nam trong cuộc thương nghị hòa bình. Nhưng
    ngày 16.12.1861, Bonard hung hãn đánh chiếm Biên Hòa; ngày 7.1.1862
    đánh chiếm Bà Rịa. Ông Tộ không mong gì ở hòa cuộc nữa và thôi làm từ
    dịch cho Pháp. Ông vẫn ở Sài Gòn, ngấm ngầm liên lạc với quan chức đang
    có trách nhiệm giải quyết vấn đề hòa hay chiến tại đây, nhằm mục đích
    thông tin xác thực để giải quyết tình huống có lợi cho Việt Nam. Nhân tiện
    ông giúp xây cất tu viện Dòng thánh Phaolô (số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1,
    thành phố Hồ Chí Minh nay), bắt đầu tháng 9.1862 và hoàn tất ngày
    18.7.1864. Giáo sĩ Le Mée kể lại như sau:
    "Đức Giám mục Gauthier và Linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ
    Đàng Ngoài, tên là Lân (tức Nguyễn Trường Tộ), với trí thông minh hiếm
    https://thuviensach.vn

    có. Được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của giám mục
    mình, nho sĩ Đàng Ngoài này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc
    suất công việc. Trước kia ông có ở Hồng Kông ít lâu và trong thời gian
    ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và
    thể loại kiến trúc của châu Âu. Thời đó ở Sài Gòn chưa có một công trình
    nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do Nữ tu Benjamin
    (Bề trên) cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung
    và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt
    Nam. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom
    công việc một cách rất cẩn thận; chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác
    của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý
    tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện
    được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ
    cũng như chưa có nhà thầu"[7].
    Suốt 11 năm, từ đầu năm 1861 khi ở Hồng Kông về Sài Gòn đến cuối
    năm 1871 lúc qua đời, Nguyễn Trường Tộ đã đệ đạt nhiều văn thư và điều
    trần tới các thượng quan lo nhiệm vụ chiến hay hòa với Pháp, tới Lục bộ
    triều đình cùng cả Cơ mật viện. Tiếc thay nhiều văn bản đã mất mát. Nay
    chỉ còn 58 di thảo hay điều trần[8]. Chúng tôi tạm chia ra hai phần:
    1. Thời gian chuẩn bị (1861 - 1865) chỉ có 7 di thảo.
    2. Thời gian hợp tác (1866 - 1871) có 51 di thảo.

    https://thuviensach.vn

    1

    Thời gian chuẩn bị hay chờ đợi
    Ngày 25.2.1861, Đô đốc Pháp Charner và đại tá Tây Ban Nha
    Palanca đem quân đến phá đại đồn Chí Hòa. Thống tướng Nguyễn Tri
    Phương phải lui binh. Triều đình cử Nguyễn Bá Nghi tới thay thế. Pháp đề
    nghị với Nguyễn Bá Nghi thương thuyết ngưng chiến. Phía Việt Nam do dự
    nấn ná. Ngày 10.4.1861, Pháp chiếm đóng kinh Bảo Định (từ Tân An đến
    Mỹ Tho). Ngày 12.4.1861, Đô đốc Page chiếm Mỹ Tho. Đến đây, những
    điều kiện thương thuyết của Charner tương đối còn nhẹ, thí dụ chỉ muốn
    được giao thương trong toàn quốc Việt Nam và đòi một thương điếm vĩnh
    viễn giống Hồng Kông hoặc Tân Gia Ba. Nguyễn Trường Tộ liền gửi tới
    Nguyễn Bá Nghi một văn thư:
    "Nay có đánh họ cũng không đi, hòa họ cũng không đi. Họ chỉ xin
    mình một miếng đất mà thôi. Nếu cứ cương quyết không cho, họ sẽ lập mưu
    cướp hết, từ khách quay lại làm chủ, như thế là tiếc một mảnh đất mà đem
    cả nước trao cho họ. Nếu biết rằng họ đã đến là không đi, họ ỷ thế vào
    những nước khác, thì đánh với họ tức là mất cái lớn không đáng mất mà
    còn tỏ ra mất đó là vì bất lực, không hợp tình, không kêu nài gì được, chi
    bằng hòa mà mất cái nhỏ không thể không mất mà còn tỏ ra mình ngoại
    giao biết điều và là việc hợp tình hợp lý có hơn không?...
    Nhượng một tấc đất mà nhân dân được lợi vô cùng. Như thế chẳng
    phải là làm việc chung cho thiên hạ đó sao? Người xưa cũng làm như thế
    thôi. Không thể bỏ cách đó mà theo khác được. Thế là xoay chuyển một cái
    mà kẻ sống người chết đều chịu ơn, thật là sáng rõ, rõ như ánh sáng lửa rọi,
    chẳng còn hình tích gì đáng nghi nữa cả. Dân đã yên, sau sẽ khiến kẻ hiền
    tài vượt biển sang các nước lớn học cách đánh trận giữ thành, học tập trí
    https://thuviensach.vn

    xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài, mới biết lường sức đo tài, biết
    hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi mới sinh kỹ xảo, rất mực kỹ xảo mới
    mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng uy sức nhuệ, đợi thời hành động, mất ở phía Đông
    thì lấy ở phía Tây cũng chưa muộn gì"[9].
    Triều đình Huế không chịu điều đình. Ngày 20.11.1861, Charner bàn
    giao quyền hành cho Đô đốc Bonard. Ngày 9.12.1861, Bonard đánh chiếm
    Biên Hòa. Ngày 1.2.1862, thiết lập trại giam ở Côn Đảo. Ngày 28.3.1862,
    Bonard đánh chiếm Vĩnh Long. Sau đó Bonard đề nghị lập hòa ước nhưng
    với những điều kiện nặng nề hơn Charner nhiều. Sử Thực lục ghi:
    "Nguyên soái Phú Lãng Sa là Phố Na (Bonard) sai Xuy Mông chạy
    tàu máy vào cửa biển Thuận An... để đưa thư bàn về việc hòa"[10]. Trương
    Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Lâm Duy Thiếp "lấy việc
    cho sứ đi là phải". "Thư đưa nói ba việc là: một là đặt toàn quyền; một là
    bồi trả quân nhu; một là đưa trước 10 vạn quan tiền để làm tin... Vua nói:
    Tạm thời khuất mình, tạm thời chịu phí, mà có thể cứu được quân dân,
    không bị mất đất đai thì nên lắm. Duy sợ không tiếp tục mãi được thì việc
    quân lại dấy lên, thành ra không được việc gì. Đến như việc đặt toàn quyền,
    đến lúc ấy mà không thể nói được, nếu theo họ thì có nước cũng như
    không, đã chịu nhục mà đời đời chịu tai vạ..."[11].
    Sử Thực lục ghi tiếp: "Khi ấy Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp xin
    đi. Lại chuẩn cho sung làm chánh phó sứ toàn quyền đại thần đề nghị về
    việc hòa. Lại sai đình thần bàn định đại ý về điều ước, vua sửa định rồi
    trao cho". Đình thần bàn định khá kỹ về 14 điều do Pháp đề nghị. Tự Đức
    phán bảo rằng: "Về khoản đạo giáo công hành, quyết không thể cho được.
    Nếu không được đúng thì chỉ được theo như lần trước đã nghĩ: đến thì phải
    trình, ở thì phải có nơi. Nam Kỳ thì chỉ một xứ Gia Định, Bắc Kỳ thì Nam
    Định hoặc Hải Dương một xứ mà thôi... Đến như địa hạt Gia Định, Biên
    Hòa, Định Tường chỉ cho ở đấy buôn một hai nơi mà thôi; nếu không dừng
    được thì chỉ đến chuộc là cùng". Trước khi sứ đoàn ra đi, chỉ thị còn nói:
    "Những khoản nào chưa có dự nghĩ, thì việc nhỏ mọn nên chiểu lẽ mà làm
    cho ổn thỏa, còn việc quan trọng to lớn thì lấy lẽ mà tranh biện. Nếu họ

    https://thuviensach.vn

    nghe theo thì thôi, họ không nghe thì kiếm lời thoái thác để ngừng hoãn lại,
    đợi được báo cáo sẽ làm cho hợp sự thế"[12].
    Ngày 24 tháng 4 năm Nhâm Tuất, sứ đoàn Phan Thanh Giản, Lâm
    Duy Thiếp đi thuyền Loan Thoại vào Gia Định. Trong sứ đoàn có linh mục
    Đặng Đức Tuấn làm thông ngôn. Ngày 9 tháng 5 (dương lịch là ngày
    5.6.1862) là ngày ký hòa ước. Phía đối phương có Đô đốc Bonard đại diện
    nước Pháp, đại tá Palanca - Guttierez đại diện Tây Ban Nha. Aubaret dịch
    giả Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức làm thông ngôn (Cố
    Trường Legrand de la Liraye và Trương Vĩnh Ký chỉ làm thông ngôn ở
    vòng ngoài về phía Pháp).
    Ngày 26.5.1862, sứ đoàn Việt Nam tới Sài Gòn, đại diện ba nước trao
    đổi ủy nhiệm thư trên chiến hạm Le Duperré đậu ở bến sông đầu đường
    Đồng Khởi nay. Sau đó là hội nghị diễn ra tại Trường Thi (Nhà Văn hóa
    Thanh niên, 4 Phạm Ngọc Thạch, Q.1 hiện tại). Đối phương đòi những điều
    kiện quá đáng, linh mục Đặng Đức Tuấn kể lại:
    Phan - Lâm đòi Tuấn hỏi han:
    "Tây xin nhiều quá, Tuấn bàn làm sao?"
    Tuấn rằng: "Ông lớn lượng cao,
    Đòi bồi thì chịu, đừng giao tỉnh thành.
    Ý tôi thời vậy đã đành,
    Mặc lượng quan lớn quyền hành chủ trương"[13].
    Ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất tức ngày 5.6.1862, ba bên ký kết một
    hòa ước rất bất lợi cho ta.
    Sử Thực lục ghi rõ: "Khi sắp đi, vua rót rượu của vua dùng ban cho.
    Rồi dụ rằng: đất đai quyết không thể nào cho được, tà giáo quyết không
    cho tự do tuyên truyền. Kịp khi hai viên ấy (Phan Thanh Giản, Lâm Duy
    Thiếp) đến Gia Định, bèn đem đất ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên
    Hòa nhường cho Tây dương, lại nhận số bạc bồi quân phí đến 400 vạn
    đồng, ước tính đến 280 vạn lạng bạc) và lập nhà giảng đạo, mở phố thông
    thương, gồm 12 khoản... Vua nói: thương thay con đỏ của lịch triều, nào có
    tội gì? Rất là đau lòng! Hai viên này không những là người có tội của bản

    https://thuviensach.vn

    triều mà là người có tội của nghìn muôn đời vậy!... (Đình thần) xin bắt tội.
    Vua nói: bây giờ há có người hiền tài nào mà đổi hết được dư. Bèn cho
    Thanh Giản lãnh tổng đốc Vĩnh Long, Duy Thiếp lãnh tuần phủ Thuận
    Khánh cùng với tướng nước Phú Lãng Sa biện bác để chuộc tội"[14].
    Kết quả hòa ước Nhâm Tuất như vừa kể rất tai hại cho Việt Nam; khác
    xa với sự phân tích tình thế và mong đợi của Nguyễn Trường Tộ trình bày
    trong Di thảo số 1 Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ (Thiên hạ đại
    thế luận) [15]. Đọc kỹ nội dung Di thảo này, chúng ta sẽ biết đây là văn kiện
    mà Nguyễn Trường Tộ viết trước khi có hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862),
    chứ không phải là "tháng 3-4 năm 1863". Xin trích dẫn khá đầy đủ Di thảo
    này:
    "Tôi là Nguyễn Trường Tộ, bề tôi nước Đại Nam đã từng trốn ra nước
    ngoài xin đem những điều mà tôi đã biết và thấy một cách chính xác về sự
    thế trong thiên hạ, mạo tội kính bẩm...
    Ngày nay các nước phương Tây, đã bao chiếm suốt từ Tây nam cho
    đến Đông bắc, toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc,
    Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật
    Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là
    không bị họ chẹn họng bám lưng... Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có
    xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương mù
    thấm đọng thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt...
    Đến như địa thế Trung Hoa chiếm 1 phần 3 Đông phương, nhân số
    đến 360 triệu, uy thế lẫy lừng, ai cũng phải thần phục họ cả, thế mà từ thời
    Minh về sau, người Tây phương vượt biển sang Đông, hai bên đánh nhau,
    thây chất thành đống, sau phải giảng hòa không biết bao nhiêu lần. Còn
    như ta là một xứ nóng, gần kề Quế hải (Biển Đông), là trạm nghỉ chân của
    người Tây phương trên đường sang Đông...
    Mới đây, người Pháp thừa thế đánh xong tỉnh Quảng Đông, đã đưa
    quân tinh nhuệ xuống phía Nam, làm Đà Nẵng thất thủ...Người Pháp đến
    đây, một là hỏi ta vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi vì sao không chịu giao
    thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường giao thương như các

    https://thuviensach.vn

    nước thường làm. Lúc đầu họ không có ý đi cướp nước ngoài. Nếu những
    yêu sách của họ được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây
    hấn...
    Hiện nay quân Pháp đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện
    thuộc hạt, họ đào kinh đắp lũy trừ kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ
    đã về rừng, rồng đã xuống biển. Bây giờ như ta muốn cố thủ thành trì đợi
    cho họ tê liệt thì thật chẳng khác nào muốn quét sạch lá rừng, tát cạn nước
    biển. Không hòa mà chiến, khác nào như cứu lửa đổ thêm dầu, không
    những không cứu được mà còn cháy nhanh hơn nữa.
    Tôi thường nghiên cứu sự thay thế trong thiên hạ mà biết rằng hòa với
    Pháp là thượng sách. Hơn nữa ở châu Âu việc võ bị chỉ có nước Pháp là
    đứng hạng nhất, hùng mạnh nhất không thua ai cả... Thật đúng như sách
    Doanh hoàn chí lược đã chép vậy.
    Nếu như ngày kia Pháp đưa quân đến thì việc vượt biển cũng như đi
    trên đất bằng, trèo non như đi trên đường bộ. Nước ta tựa núi kề biển, địa
    thế như một con rắn dài. Nếu họ dùng hỏa thuyền chia nhau đánh cắt các
    tỉnh dọc bờ biển, lại cho các tàu đậu ngoài cửa sông lớn để triệt sự vận tải
    đường biển của ta, lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn để chặn
    đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của đội quân Cần
    Vương, rồi lại đổ bộ tiến đánh các chỗ xung yếu...
    Quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao gậy gộc, không thạo súng
    ống, dù phục binh gài bẫy, nhưng trận đồ như vậy chỉ hợp cho những tình
    thế không cấp bách, chỉ đánh được gần chứ không đánh được xa...
    Hơn nữa họ đã lão luyện chiến trận, những phương pháp của Đông
    phương như dụ địch, kiêu binh, địa lôi, hỏa công, sập hầm, thuốc độc họ
    đều biết cả... Huống chi việc thắng bại lại do ở nhuệ khí. Họ từ xa đến dấn
    thân vào chỗ chết với khí thế một ra đi là không trở về...
    Theo binh pháp, muốn cố thủ phải có hai điều kiện: một là thành trì,
    hai là nhân tâm. Lúc địch mới đến thì phải gấp rút chặn những chỗ xung
    yếu mà đuổi nó đi. Nếu kẻ địch đã thọc sâu vào cứ điểm, thì phải có thành
    cao hào sâu để hãm kẻ địch mệt mỏi. Đó là thượng sách. Ngày nay quân
    Pháp có hỏa thuyền để vận tải thì việc vượt muôn dặm cũng bằng chèo một
    https://thuviensach.vn

    mái chèo mà thôi... Nếu cần lắm thì phải gửi giấy xin quân Anh đóng ở Ấn
    Độ, Hương Cảng, Thượng Hải... thì sớm chiều là có thể đến nơi để giúp.
    Lại có quân của Y Pha Nho ở Lữ Tống (Phi Luật Tân) đến dồn sức tấn
    công...
    Hiện nay tình hình trong nước rối loạn. Trời thì sinh tai biến để cảnh
    cáo, đất thì hạn hán tai ương, tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ..., trong
    Triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc
    hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái
    khuynh loát nhau;... ngoài ra các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng
    xưng bá... bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước... Như thế loạn không phải
    chỉ từ bên ngoài mà ở ngay trong nước vậy...
    Sự thế hiện nay chỉ có hòa...
    Dân sẽ yên, sau sẽ khiến kẻ hiền tài vượt biển sang các nước lớn học
    cách đánh trận giữ thành, học tập trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu
    dài, mới biết lường sức đo tài, biết hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi
    mới sinh kỹ xảo, rất mực kỹ xảo mới mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng uy sức nhuệ,
    đợi thời hành động, mất ở phía Đông thì lấy lại ở phía Tây..."[16].
    Chúng tôi trích dẫn tóm tắt Di thảo số 1 và thiển nghĩ đây là một dị
    bản của điều trần Hòa từ được đệ đạt từ năm 1861 hoặc đầu năm 1862,
    nghĩa là trước khi ký kết hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862) rất bất lợi cho ta.
    Tư tưởng chiến hay hòa là tư tưởng của thời kỳ Âu Tây đem quân đi chiếm
    thuộc địa khắp thế giới. Lấy tư tưởng ngày nay mà phê bình thì không thích
    đáng. Lời nhận định nặng nề của Nguyễn Trường Tộ về tình hình nội bộ
    của ta, tỏ ra ông là người sáng suốt và cương trực. Thật đáng suy nghĩ!
    Trong Hòa từ cũng như trong Thiên hạ đại thế luận, Nguyễn Trường
    Tộ viết khi Charner "đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc
    hạt" với ý đồ "hỏi một là tại vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi vì sao không
    chịu giao thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường giao thương
    như các nước thường làm". Đó là khoảng đầu năm hay giữa năm 1861.
    Cuộc nghị hòa chưa thực hiện. Ngày 29.11.1861, Charner trao quyền cho
    Bonard; viên này đánh chiếm nốt các tỉnh miền đông Nam Kỳ và cả Vĩnh

    https://thuviensach.vn

    Long. Triều đình thấy nguy cơ lan rộng đành chấp nhận hòa đàm. Bonard
    đặt điều kiện hòa ước nặng nề hơn Charner. Phan Thanh Giản và Lâm Duy
    Thiếp nhỡ ký hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862), mặc dầu có góp ý "không
    giao tỉnh thành" của linh mục Đặng Đức Tuấn. Vì có điều liên can đến lịch
    sử Giáo hội tại Việt Nam, chúng tôi xin tạm dịch lời mở đầu với 12 điều
    của hòa ước.

    https://thuviensach.vn

    2

    Nội dung hòa ước 1862
    Ngày hôm nay, Hoàng đế nước Pháp là Napoléon III, Nữ hoàng nước
    Tây Ban Nha là Isabelle II và Quốc vương nước An Nam là Tự Đức nhiệt
    tình mong ước rằng hiệp ước hoàn hảo nhất từ nay chi phối giữa ba nước
    Pháp, Tây Ban Nha và An Nam, đều muốn cho tình hữu nghị và hòa bình
    giữa ba nước không bao giờ tan vỡ.
    (Nhằm mục đích ấy có Đô đốc Louis-Adolphe Bonard đại diện Hoàng
    đế Pháp, Đại tá Don Carlos Palanca Guttierez đại diện Nữ hoàng Tây Ban
    Nha, và Thượng thư Phan Thanh Giản, Thượng thư Lâm Duy Thiếp đại
    diện Quốc vương Tự Đức cùng đồng thuận về các Điều của hiệp định hòa
    bình và thân hữu này).
    Điều 1: Kể từ nay sẽ có nền hòa bình vĩnh cửu giữa Hoàng đế nước
    Pháp, Nữ hoàng Tây Ban Nha một bên và Quốc vương An Nam một bên;
    tình hữu nghị cũng sẽ trọn vẹn và vĩnh cửu giữa công dân ba nước, bất cứ
    họ ở đâu.
    Điều 2: Công dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha sẽ có thể thi hành
    việc thờ phượng đạo Kitô trong nước An Nam và công dân của nước này
    bất cứ ai muốn gia nhập và theo đạo Kitô sẽ được tự do không bị ngăn cản;
    nhưng không ai được ép uổng theo đạo những người không muốn theo.
    Điều 3: Toàn thể ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường (Mỹ Tho)
    và Côn Đảo sẽ hoàn toàn theo hòa ước này thuộc chủ quyền trọn vẹn của
    Hoàng đế nước Pháp.
    Ngoài ra thương nhân Pháp sẽ được tự do buôn bán và lưu thông
    bằng bất cứ tàu thuyền nào trên sông Mêkông và tất cả chi lưu của sông

    https://thuviensach.vn

    này; cũng sẽ như vậy đối với chiến hạm Pháp đi thanh tra trên sông này và
    tất cả những chi lưu.
    Điều 4: Một khi hòa bình tái lập, nếu một nước ngoài muốn được trao
    cho một phần đất đai An Nam - hoặc bằng gây hấn, hoặc bằng hiệp ước thì Quốc vương An Nam sẽ thông báo trước cho sứ thần Pháp để đệ trình
    trường hợp xảy ra ngõ hầu Hoàng đế Pháp được hoàn toàn tự do trong
    việc có trợ giúp hay không Vương quốc An Nam. Nhưng nếu trong hiệp ước
    với ngoại quốc có vấn đề trao nhượng đất đai, thì việc trao nhượng ấy chỉ
    có thể hợp thức hóa bằng sự chấp thuận của Hoàng đế Pháp.
    Điều 5: Công dân đế quốc Pháp và vương quốc Tây Ban Nha có thể
    được tự do thương mại trong ba hải cảng Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên.
    Công dân An Nam cũng được tự do thương mại trong các hải cảng
    Pháp và Tây Ban Nha theo đúng luật pháp hiện hành.
    Nếu một nước ngoài giao thương với An Nam, thì công dân nước
    ngoài ấy không được biệt đãi hơn công dân Pháp và Tây Ban Nha...
    Điều 6: Khi hòa bình tái lập, nếu có vấn đề gì quan trọng phải thương
    thảo, thì ba nhà vua sẽ cử đại diện thương thuyết tại một trong ba thủ đô...
    Điều 7: Khi hòa bình tái lập thì sự hận thù hoàn toàn không còn. Vì
    thế Hoàng đế Pháp sẽ chấp thuận một cuộc đại xá cho các công dân dù
    quân sự hay dân sự của vương quốc An Nam từng tham chiến và tài sản bị
    tịch thu của họ sẽ được giải tỏa. Quốc vương An Nam cũng sẽ tổng đại xá
    cho những công dân mình từng đầu hàng và theo Pháp, đại xá cho những
    người ấy và cả gia đình họ.
    Điều 8: Quốc vương An Nam phải trả một chiến phí là bốn triệu đôla
    trong vòng mười năm.
    Sẽ được trừ đi số tiền mười vạn quan đã đưa trước rồi. Vương quốc
    An Nam không có tiền đôla, vậy mỗi đô-la tính là 72 phần 100 của lạng
    bạc.
    Điều 9: Nếu một kẻ gian phi, trộm cướp hay phản loạn An Nam vi
    phạm trộm cướp hay phá rối trật tự trong phần lãnh thổ thuộc Pháp, hay
    nếu công dân Âu châu nào phạm pháp trốn sang lãnh thổ An Nam, thì lập

    https://thuviensach.vn

    tức chính quyền Pháp thông tin cho chính quyền An Nam biết để cố bắt giữ
    kẻ phạm pháp và trao cho chính quyền Pháp.
    Cũng cư xử như thế đối với kẻ gian phi trộm cướp hay tạo loạn người
    An Nam sau khi phạm tội chạy chốn sang địa hạt Pháp.
    Điều 10: Cư dân ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên có thể tự do
    buôn bán trong ba tỉnh thuộc Pháp tuân theo luật lệ hiện hành; nhưng việc
    chuyên chở binh lính, khí giới, đạn dược hoặc lương thực giữa ba tỉnh đó
    với Nam Kỳ thì phải duy nhất đi qua đường biển.
    Tuy nhiên, Hoàng đế Pháp chấp thuận việc chuyên chở như thế vào
    Cao Miên thì qua Mỹ Tho gọi là Cửa Tiền, với điều kiện là chính quyền An
    Nam phải báo trước cho Đại diện Hoàng đế để nhận lãnh giấy thông hành.
    Nếu không theo đúng thủ tục đó và việc chuyển vận thâm nhập không có
    giấy phép, thì phương tiện chuyên chở cùng đồ đạc chuyên chở sẽ bị bắt
    giữ và đồ đạc bị tiêu hủy.
    Điều 11: Tỉnh thành Vĩnh Long vẫn bị chiếm giữ bởi quân đội Pháp
    tới khi có lệnh mới, song không ngăn cản hoạt động của quan chức An
    Nam. Tỉnh thành này sẽ được trả về Quốc vương An Nam ngay khi nhà vua
    làm cho ngưng hết sự phản loạn do chính lệnh của nhà vua hiện còn tồn tại
    trong hai tỉnh Gia Định, Định Tường, và khi các thủ lãnh phản loạn ra đi
    tạo cho xứ sở yên ả và khuất phục đúng như một xứ sở thanh bình.
    Điều 12: Mỗi vị Thượng quan toàn quyền của ba nước sẽ báo cáo lên
    Quốc trưởng mình và kể từ hôm nay ngày ký hiệp ước này trong thời hạn
    một năm, sau khi ba vị Quốc trưởng xem xét và phê chuẩn hiệp ước, thì
    nghi thức chuẩn nhận sẽ được tiến hành tại thủ đô vương quốc An Nam.
    Các Đại diện Toàn quyền tương ứng kể trên đây cùng ký tên và đóng
    dấu vào hiệp ước này để làm tin.
    Làm tại Sài Gòn, năm 1862 ngày 5 tháng 6.
    Năm Tự Đức thứ 15, tháng 5, ngày 9.
    Đã ký
    Bonard, Carlos Palanca,
    Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp[17]

    https://thuviensach.vn

    Mười hai điều khoản hiệp ước tai hại cho tiền đồ Việt Nam như vậy
    nên Tự Đức đau đớn than rằng: "Thương thay cho con đỏ của lịch triều,
    nào có tội gì? Rất là đau lòng! Hai viên này không những là người có tội
    của bản triều mà là có tội với nghìn muôn đời vậy!".
    Việc hòa đàm được thực hiện do chính vua Tự Đức và triều thần đồng
    ý trong hoàn cảnh: "Nguyên soái Phú Lãng Sa là Phô Na (Bonard) sai Xuy
    Mông chạy tàu máy vào cửa biển Thuận An... để đưa thư bàn về việc hòa.
    Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành đem việc tâu lên. Vua hỏi, đình thần và
    bọn Trương Đăng Quế đều lấy việc cho sứ đi lại là phải"[18]. Tuy nhiên, kết
    quả điều đình là hiệp ước Nhâm Tuất tai hại quá đỗi. Tự Đức cùng đình
    thần cả phe chủ hòa lẫn phe chủ chiến đều tức tốc ráng công sửa chữa...
    Trong 12 điều của hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862) chỉ có điều 2 quy
    định vấn đề tôn giáo: "Công dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha sẽ có thể
    thi hành việc tôn thờ đạo Kitô trong nước An Nam và công dân của nước
    này bất cứ ai muốn gia nhập và theo đạo Kitô sẽ được tự do không bị ngăn
    cản; nhưng không ai được ép uổng theo đạo những người không muốn
    theo"[19].

    https://thuviensach.vn

    3

    Nguyễn Trường Tộ bàn về tự do tôn
    giáo
    Trước khi có hiệp ước, Tự Đức ra chỉ dụ bắt giết tất cả giáo sĩ Công
    giáo và bắt "phân sáp" toàn thể giáo dân chia ra các làng lương dân để kiểm
    soát và khống chế. Khi có hiệp ước, tất nhiên các giáo sĩ ngoại quốc và giáo
    dân vui mừng. Tuy thế vẫn còn những giáo sĩ bản quốc và tín hữu sĩ phu,
    tiêu biểu hơn cả là linh mục Đặng Đức Tuấn và nhân sĩ Nguyễn Trường Tộ
    cho rằng đế quốc Tây phương chỉ lấy cớ cấm đạo để xâm chiếm nước ta,
    mặc dầu việc cấm đạo là có thật. Cho nên linh mục Đặng Đức Tuấn đề nghị
    với Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp "Đòi bồi thì chịu, đừng giao tỉnh
    thành" khi ký hiệp ước Nhâm Tuất[20]. Còn Nguyễn Trường Tộ đệ đạt lên
    triều đình Tự Đức bản điều trần Bàn về tự do tôn giáo (Giáo môn luận)
    ngày 29.3.1863 với nội dung chủ yếu như sau:
    "Trộm nghĩ rằng cái đức lớn của trời đất là sự sống. Sống là gì? Là
    làm cho muôn vật đều được bảo toàn thiên tính của nó. Vì vậy mà trên trời
    có sao sáng mây đẹp thì cũng có gió lớn mưa to; dưới đất có lúa tươi thóc
    tốt thì cũng có cỏ xấu sâu độc. Tuy tốt xấu khác nhau nhưng đều được sinh
    nở không cái nào bị hại. Như vậy mới sáng tỏ cái đại toàn của trời đất.
    Chứ cái gì đẹp thì tô bồi, cái gì xấu thì dẹp bỏ, cái gì hay thì che chở, cái gì
    dở thì hủy hoại thì không làm sao thấy được cái vĩ đại, cái kỳ diệu của tạo
    vật...
    Vua đối với dân, xem bề ngoài tuy có tôn ty khác nhau, nhưng bề
    trong cũng cùng một lẽ sinh thành của tạo vật mà thôi. Tạo vật đối với
    muôn loài, các việc ăn nghỉ ham muốn đều được theo xu hướng của nó,

    https://thuviensach.vn

    không cưỡng ép phải làm khác đi cái điều nó yêu thích hay hòa đồng với
    cái điều nó không ưa. Vì vậy cho nên tuy sống chung lộn với nhau mà vẫn
    thành ...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách là hành trình khai mở trí tuệ, nơi mỗi trang sách là một nhịp cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT HỒNG LĨNH - HÀ TĨNH !