[Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:42' 05-04-2024
Dung lượng: 642.3 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:42' 05-04-2024
Dung lượng: 642.3 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VỚI TRIỀU ĐÌNH TỰ ĐỨC
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Biên Khảo
NXB Trẻ
Ebook: Cuibap
Nguồn Text: cailubietdi
https://thuviensach.vn
Lời Tựa
Năm 2011, Đức giám mục Vinh - Nguyễn Thái Hợp có thiện ý muốn
tổ chức kỷ niệm 140 năm (1871-2011) ngày qua đời của nhà yêu nước
Nguyễn Trường Tộ ngay tại quê hương và phần mộ ở Xã Đoài, huyện Nghi
Lộc, thành phố Vinh nay. Nhiều học giả đã tán thành và gửi bài tham luận.
Rất tiếc năm 201 là năm có nhiều vấn đề nhạy cảm mà vấn đề Nguyễn
Trường Tộ nằm trong số đó! Nên không có gì để kỷ niệm Nguyễn Trường
Tộ cho đáng với một nhân vật lịch sử lớn như ông.
Tôi cũng được vinh dự đóng góp một báo cáo nhỏ. Đó là bài Giả như
kế hoạch đánh úp Gia Định của Nguyễn Trường Tộ được thi hành![1]. Tất
nhiên, không có tọa đàm hay nghi thức kỷ niệm thì bài này không được ra
mắt quý bạn đọc.
Sau ngày 30.4.1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, giới Công giáo
thành phố Hồ Chí Minh thường biểu lộ lòng mến quê hương với bài ca rất
phổ biến Trước khi là Công giáo tôi là người Việt Nam. Công giáo hay
không, đều là người Việt Nam, đều có nghĩa vụ và quyền lợi của một công
dân trung thành với tổ quốc dân tộc.
Thiển nghĩ Nguyễn Trường Tộ là nhân vật Công giáo nêu tấm gương
yêu nước tuyệt vời ấy ngay từ thời "trung quân ái quốc", trong một giai
đoạn lịch sử cực kỳ phức tạp và đen tối. Ông đã điều trần Tự do tôn
giáo[2]là quyền thiêng liêng, nhưng nhiệm vụ phụng sự đất nước cũng là
bất khả kháng. Ngay từ khi Công giáo truyền vào Việt Nam hơn 400 năm
trước, một sáng kiến thần học đã lập thuyết Tam phụ tức phải tôn kính ba
cha: Trời, (thượng phụ). Vua (trung phụ) và đấng sinh thành (hạ phụ). Như
vậy, càng kính Chúa và hiếu hạnh thì càng phải "trung quân ái quốc". Lý
thuyết đâu có trái nghịch với thực tế! Trong một điều trần, Nguyễn Trường
https://thuviensach.vn
Tộ giải thích về thuyết Tam phụ rất minh bạch và hấp dẫn, trước khi sáng
tác điều trần Ngôi vua là quý, chức quan là trọng
[3] . Tuy nhiên, với tư
cách một thường dân tha thiết tới vận mệnh dân tộc, Nguyễn Trường Tộ đã
đệ đạt lên triều đình Tự Đức những bài học lịch sử và thời sự quốc tế nhằm
canh tân xứ sở và cứu nguy dân tộc.
Nhân dịp kỷ niệm này, tôi đã mạo muội viết một số bài trên tuần báo
Công giáo và Dân Tộc ngõ hầu giới thiệu Nguyễn Trường Tộ như một tấm
gương ái quốc chói sáng cho tín hữu chúng tôi. Từ xưa đến nay đã có nhiều
học giả hay tác giả viết về Nguyễn Trường Tộ. Tôi đã học hỏi được nhiều,
song tôi không thể trích dẫn hết các điều trần và những nhận xét sâu sắc
của quý vị. Tôi chỉ dám lựa chọn một góc nhỏ: Nguyễn Trường Tộ với triều
đình Tự Đức (1861-1871) và đặc biệt sử dụng tư liệu tổng hợp về Nguyễn
Trường Tộ của Trương Bá Cần[4]cùng bộ chính sử Đại Nam thực lục chính
biên[5].
Chúng ta đều biết khoảng giữa thế kỷ XIX, sau khi thôn tính được
nhiều thuộc địa trên thế giới, đế quốc Pháp khởi công xâm chiếm nước ta
và các tiểu quốc thuộc quyền bảo hộ Việt Nam ở Đông Dương, với lý do
Việt Nam không tôn trọng tự do tôn giáo! Ngày 19.6.1988, Tòa thánh
phong hiển thánh cho 117 tín hữu, mà dưới ba triều Minh Mạng - Thiệu Trị
- Tự Đức có tới 111 vị (58+3+50) tuẫn tử trong thời gian từ 1833 đến 1862.
Đó là những năm Pháp đem tàu chiến và quân lực đến uy hiếp và đánh phá
Việt Nam. Tín hữu hy sinh thực sự vì trung thành với đức tin, nhưng chính
quyền cấm đạo và tàn sát tín hữu có lẽ vì lý do chính trị hơn tín ngưỡng.
Tôi đã cố giải thích khúc mắc này qua tập sách nhỏ Tiểu sử Cha Khâm Đặng Đức Tuấn[6].
Dẫu chỉ lựa chọn nghiên cứu vấn đề ở một góc hẹp và đa phần là trích
dẫn các tư liệu chính xác, nhưng chúng tôi vẫn thành thực xin quý độc giả
nhắc nhở cho biết những gì còn sai nhầm hay thiếu sót. Xin trân trọng cám
ơn.
Cuối thu năm 2012
Nguyễn Đình Đầu
https://thuviensach.vn
Danh nhân Nguyễn Trường Tộ qua đời ngày 22.11.1871, đến nay đã
142 năm. Lịch sử đã ghi nhận ông là một sĩ phu bày mưu tính kế giải phóng
dân tộc từ buổi đầu Pháp xâm chiếm nước ta và đạo đạt phương lược canh
tân xứ sở trước cả thời Nhật với Minh Trị Thiên Hoàng.
Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830, con cụ lang Nguyễn Quốc Thủ, tại
thôn Xã Đoài nay thuộc huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Xã Đoài là thôn
theo đạo Công giáo từ lâu đời. Năm 1846, giáo phận Vinh (nguyên gọi là
Tây Đàng Ngoài) được thành lập với Giám mục tiên khởi là Gauthier Hậu.
Ngài liền lấy Xã Đoài làm trụ sở. Khi ấy Nguyễn Trường Tộ 16 tuổi đã
thông thạo nho học với tứ thư ngũ kinh, với sử sách Đông phương và đất
nước, lại được mệnh danh là "trạng Tộ". Ông mở trường dạy học tại gia.
Đức cha Hậu biết ông Tộ là người tài đức, liền mời ông làm thầy dạy các
chủng sinh của giáo phận. Đồng thời ông Tộ cũng nhờ cậy Đức cha Hậu,
học thêm tiếng Pháp và nghiên cứu nền văn minh Tây phương cùng lịch sử
đổi thay của các quốc gia trên thế giới, kể cả sự tiến bộ về khoa học và kỹ
thuật.
Tình hình đạo đời đương thời hầu như thúc bách Nguyễn Trường Tộ
trau dồi thêm nhiều kiến thức: Năm 1833 Minh Mạng ban hành chỉ dụ cấm
đạo khắc nghiệt sau vụ nổi loạn Lê Văn Khôi mà khi tái chiếm thành Gia
Định bắt được cố Marchand Du cùng một số ít giáo dân ở trong. Dưới thời
Thiệu Trị nối ngôi từ 1841 đến 1847, việc cấm đạo được nới nhẹ hơn. Tuy
nhiên, từ khi Tự Đức lên ngôi năm 1848, nhiều nước Tây phương kể cả
Hoa Kỳ, nhất là Pháp, đến xin mở cửa giao thương. Pháp xin thêm trả tự do
cho các vị thừa sai Tây phương và cho truyền giáo. Đôi lần Pháp đem cả
chiến thuyền đến thị oai. Tự Đức thấy đó là mưu đồ đế quốc xâm chiếm
nước ta, nên càng bế quan tỏa cảng và ráo riết cấm đạo.
Năm 1858, Pháp kết hợp với Tây Ban Nha - nước có nhiều giáo sĩ ở
giáo phận Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình...) - đem
chiến thuyền đến đánh phá Cửa Hàn (Đà Nẵng) và tìm đường ra chiếm kinh
đô Huế. Tự Đức liền ra chỉ dụ trảm quyết hết giáo sĩ kể cả bản quốc và
phân sáp toàn thể giáo dân. Đức cha Hậu (Gauthier) - giám mục đại diện
Tông tòa coi sóc giáo phận Vinh và Nguyễn Trường Tộ đành phải sang
https://thuviensach.vn
Hồng Kông lánh nạn. Đây cũng là dịp Nguyễn Trường Tộ xuất dương để
mắt thấy tai nghe những hiện tượng lớn lao làm thay đổi tình hình thế giới.
Ông đọc thêm "tân thư" mà Trung Quốc dịch thuật từ sách tiến bộ Tây
phương. Ông được tiếp xúc và đàm đạo sâu sắc với giới thức giả Đông
phương và Tây phương kể cả mục sư Tin Lành tân tiến. Ông kiểm nghiệm
giữa kiến thức đã thâu thái với thực tế diễn biến đương thời. Tất nhiên ông
đặc biệt chú ý đến những gì liên quan đến đất nước và con người Việt Nam.
Có lẽ ông cũng có dịp tham quan Tân Gia Ba và Pênăng. Hai nơi này đều là
thuộc địa của Anh giống như Hương Cảng và là những trung tâm giao
thương quốc tế bắt đầu phát triển theo mô hình tư bản Tây phương. Ông
cùng Giám mục Hậu trở về Sài Gòn năm 1861.
Chúng ta biết rằng năm 1858 Pháp và Tây Ban Nha đánh phá Cửa
Hàn, nhưng thất bại, nên năm sau tức 1859 kéo quân vào Nam xâm chiếm
thủ phủ Gia Định (Sài Gòn). Suốt hai năm từ đầu năm 1859 đến đầu năm
1861, Pháp chịu nhiều khốn đốn mới chiếm đóng được một phần nhỏ Sài
Gòn vì phải rút quân sang Trung Hoa chinh chiến. Khi chiến tranh giữa
Trung Hoa và liên quân Anh - Pháp chấm dứt, Đô đốc Charner đem một
đội quân hùng hậu tới đánh phá đại đồn Chí Hòa do thống tướng Nguyễn
Tri Phương chỉ huy, rồi mở rộng thêm nhiều khu chiếm đóng. Charner đã
mời Giám mục Hậu về Sài Gòn, Nguyễn Trường Tộ cũng về theo. Charner
nhận ông Tộ làm thông dịch viên. Ông làm việc này với thâm ý lèo lái sự
việc cho có lợi về phía Việt Nam trong cuộc thương nghị hòa bình. Nhưng
ngày 16.12.1861, Bonard hung hãn đánh chiếm Biên Hòa; ngày 7.1.1862
đánh chiếm Bà Rịa. Ông Tộ không mong gì ở hòa cuộc nữa và thôi làm từ
dịch cho Pháp. Ông vẫn ở Sài Gòn, ngấm ngầm liên lạc với quan chức đang
có trách nhiệm giải quyết vấn đề hòa hay chiến tại đây, nhằm mục đích
thông tin xác thực để giải quyết tình huống có lợi cho Việt Nam. Nhân tiện
ông giúp xây cất tu viện Dòng thánh Phaolô (số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1,
thành phố Hồ Chí Minh nay), bắt đầu tháng 9.1862 và hoàn tất ngày
18.7.1864. Giáo sĩ Le Mée kể lại như sau:
"Đức Giám mục Gauthier và Linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ
Đàng Ngoài, tên là Lân (tức Nguyễn Trường Tộ), với trí thông minh hiếm
https://thuviensach.vn
có. Được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của giám mục
mình, nho sĩ Đàng Ngoài này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc
suất công việc. Trước kia ông có ở Hồng Kông ít lâu và trong thời gian
ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và
thể loại kiến trúc của châu Âu. Thời đó ở Sài Gòn chưa có một công trình
nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do Nữ tu Benjamin
(Bề trên) cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung
và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt
Nam. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom
công việc một cách rất cẩn thận; chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác
của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý
tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện
được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ
cũng như chưa có nhà thầu"[7].
Suốt 11 năm, từ đầu năm 1861 khi ở Hồng Kông về Sài Gòn đến cuối
năm 1871 lúc qua đời, Nguyễn Trường Tộ đã đệ đạt nhiều văn thư và điều
trần tới các thượng quan lo nhiệm vụ chiến hay hòa với Pháp, tới Lục bộ
triều đình cùng cả Cơ mật viện. Tiếc thay nhiều văn bản đã mất mát. Nay
chỉ còn 58 di thảo hay điều trần[8]. Chúng tôi tạm chia ra hai phần:
1. Thời gian chuẩn bị (1861 - 1865) chỉ có 7 di thảo.
2. Thời gian hợp tác (1866 - 1871) có 51 di thảo.
https://thuviensach.vn
1
Thời gian chuẩn bị hay chờ đợi
Ngày 25.2.1861, Đô đốc Pháp Charner và đại tá Tây Ban Nha
Palanca đem quân đến phá đại đồn Chí Hòa. Thống tướng Nguyễn Tri
Phương phải lui binh. Triều đình cử Nguyễn Bá Nghi tới thay thế. Pháp đề
nghị với Nguyễn Bá Nghi thương thuyết ngưng chiến. Phía Việt Nam do dự
nấn ná. Ngày 10.4.1861, Pháp chiếm đóng kinh Bảo Định (từ Tân An đến
Mỹ Tho). Ngày 12.4.1861, Đô đốc Page chiếm Mỹ Tho. Đến đây, những
điều kiện thương thuyết của Charner tương đối còn nhẹ, thí dụ chỉ muốn
được giao thương trong toàn quốc Việt Nam và đòi một thương điếm vĩnh
viễn giống Hồng Kông hoặc Tân Gia Ba. Nguyễn Trường Tộ liền gửi tới
Nguyễn Bá Nghi một văn thư:
"Nay có đánh họ cũng không đi, hòa họ cũng không đi. Họ chỉ xin
mình một miếng đất mà thôi. Nếu cứ cương quyết không cho, họ sẽ lập mưu
cướp hết, từ khách quay lại làm chủ, như thế là tiếc một mảnh đất mà đem
cả nước trao cho họ. Nếu biết rằng họ đã đến là không đi, họ ỷ thế vào
những nước khác, thì đánh với họ tức là mất cái lớn không đáng mất mà
còn tỏ ra mất đó là vì bất lực, không hợp tình, không kêu nài gì được, chi
bằng hòa mà mất cái nhỏ không thể không mất mà còn tỏ ra mình ngoại
giao biết điều và là việc hợp tình hợp lý có hơn không?...
Nhượng một tấc đất mà nhân dân được lợi vô cùng. Như thế chẳng
phải là làm việc chung cho thiên hạ đó sao? Người xưa cũng làm như thế
thôi. Không thể bỏ cách đó mà theo khác được. Thế là xoay chuyển một cái
mà kẻ sống người chết đều chịu ơn, thật là sáng rõ, rõ như ánh sáng lửa rọi,
chẳng còn hình tích gì đáng nghi nữa cả. Dân đã yên, sau sẽ khiến kẻ hiền
tài vượt biển sang các nước lớn học cách đánh trận giữ thành, học tập trí
https://thuviensach.vn
xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài, mới biết lường sức đo tài, biết
hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi mới sinh kỹ xảo, rất mực kỹ xảo mới
mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng uy sức nhuệ, đợi thời hành động, mất ở phía Đông
thì lấy ở phía Tây cũng chưa muộn gì"[9].
Triều đình Huế không chịu điều đình. Ngày 20.11.1861, Charner bàn
giao quyền hành cho Đô đốc Bonard. Ngày 9.12.1861, Bonard đánh chiếm
Biên Hòa. Ngày 1.2.1862, thiết lập trại giam ở Côn Đảo. Ngày 28.3.1862,
Bonard đánh chiếm Vĩnh Long. Sau đó Bonard đề nghị lập hòa ước nhưng
với những điều kiện nặng nề hơn Charner nhiều. Sử Thực lục ghi:
"Nguyên soái Phú Lãng Sa là Phố Na (Bonard) sai Xuy Mông chạy
tàu máy vào cửa biển Thuận An... để đưa thư bàn về việc hòa"[10]. Trương
Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Lâm Duy Thiếp "lấy việc
cho sứ đi là phải". "Thư đưa nói ba việc là: một là đặt toàn quyền; một là
bồi trả quân nhu; một là đưa trước 10 vạn quan tiền để làm tin... Vua nói:
Tạm thời khuất mình, tạm thời chịu phí, mà có thể cứu được quân dân,
không bị mất đất đai thì nên lắm. Duy sợ không tiếp tục mãi được thì việc
quân lại dấy lên, thành ra không được việc gì. Đến như việc đặt toàn quyền,
đến lúc ấy mà không thể nói được, nếu theo họ thì có nước cũng như
không, đã chịu nhục mà đời đời chịu tai vạ..."[11].
Sử Thực lục ghi tiếp: "Khi ấy Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp xin
đi. Lại chuẩn cho sung làm chánh phó sứ toàn quyền đại thần đề nghị về
việc hòa. Lại sai đình thần bàn định đại ý về điều ước, vua sửa định rồi
trao cho". Đình thần bàn định khá kỹ về 14 điều do Pháp đề nghị. Tự Đức
phán bảo rằng: "Về khoản đạo giáo công hành, quyết không thể cho được.
Nếu không được đúng thì chỉ được theo như lần trước đã nghĩ: đến thì phải
trình, ở thì phải có nơi. Nam Kỳ thì chỉ một xứ Gia Định, Bắc Kỳ thì Nam
Định hoặc Hải Dương một xứ mà thôi... Đến như địa hạt Gia Định, Biên
Hòa, Định Tường chỉ cho ở đấy buôn một hai nơi mà thôi; nếu không dừng
được thì chỉ đến chuộc là cùng". Trước khi sứ đoàn ra đi, chỉ thị còn nói:
"Những khoản nào chưa có dự nghĩ, thì việc nhỏ mọn nên chiểu lẽ mà làm
cho ổn thỏa, còn việc quan trọng to lớn thì lấy lẽ mà tranh biện. Nếu họ
https://thuviensach.vn
nghe theo thì thôi, họ không nghe thì kiếm lời thoái thác để ngừng hoãn lại,
đợi được báo cáo sẽ làm cho hợp sự thế"[12].
Ngày 24 tháng 4 năm Nhâm Tuất, sứ đoàn Phan Thanh Giản, Lâm
Duy Thiếp đi thuyền Loan Thoại vào Gia Định. Trong sứ đoàn có linh mục
Đặng Đức Tuấn làm thông ngôn. Ngày 9 tháng 5 (dương lịch là ngày
5.6.1862) là ngày ký hòa ước. Phía đối phương có Đô đốc Bonard đại diện
nước Pháp, đại tá Palanca - Guttierez đại diện Tây Ban Nha. Aubaret dịch
giả Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức làm thông ngôn (Cố
Trường Legrand de la Liraye và Trương Vĩnh Ký chỉ làm thông ngôn ở
vòng ngoài về phía Pháp).
Ngày 26.5.1862, sứ đoàn Việt Nam tới Sài Gòn, đại diện ba nước trao
đổi ủy nhiệm thư trên chiến hạm Le Duperré đậu ở bến sông đầu đường
Đồng Khởi nay. Sau đó là hội nghị diễn ra tại Trường Thi (Nhà Văn hóa
Thanh niên, 4 Phạm Ngọc Thạch, Q.1 hiện tại). Đối phương đòi những điều
kiện quá đáng, linh mục Đặng Đức Tuấn kể lại:
Phan - Lâm đòi Tuấn hỏi han:
"Tây xin nhiều quá, Tuấn bàn làm sao?"
Tuấn rằng: "Ông lớn lượng cao,
Đòi bồi thì chịu, đừng giao tỉnh thành.
Ý tôi thời vậy đã đành,
Mặc lượng quan lớn quyền hành chủ trương"[13].
Ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất tức ngày 5.6.1862, ba bên ký kết một
hòa ước rất bất lợi cho ta.
Sử Thực lục ghi rõ: "Khi sắp đi, vua rót rượu của vua dùng ban cho.
Rồi dụ rằng: đất đai quyết không thể nào cho được, tà giáo quyết không
cho tự do tuyên truyền. Kịp khi hai viên ấy (Phan Thanh Giản, Lâm Duy
Thiếp) đến Gia Định, bèn đem đất ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên
Hòa nhường cho Tây dương, lại nhận số bạc bồi quân phí đến 400 vạn
đồng, ước tính đến 280 vạn lạng bạc) và lập nhà giảng đạo, mở phố thông
thương, gồm 12 khoản... Vua nói: thương thay con đỏ của lịch triều, nào có
tội gì? Rất là đau lòng! Hai viên này không những là người có tội của bản
https://thuviensach.vn
triều mà là người có tội của nghìn muôn đời vậy!... (Đình thần) xin bắt tội.
Vua nói: bây giờ há có người hiền tài nào mà đổi hết được dư. Bèn cho
Thanh Giản lãnh tổng đốc Vĩnh Long, Duy Thiếp lãnh tuần phủ Thuận
Khánh cùng với tướng nước Phú Lãng Sa biện bác để chuộc tội"[14].
Kết quả hòa ước Nhâm Tuất như vừa kể rất tai hại cho Việt Nam; khác
xa với sự phân tích tình thế và mong đợi của Nguyễn Trường Tộ trình bày
trong Di thảo số 1 Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ (Thiên hạ đại
thế luận) [15]. Đọc kỹ nội dung Di thảo này, chúng ta sẽ biết đây là văn kiện
mà Nguyễn Trường Tộ viết trước khi có hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862),
chứ không phải là "tháng 3-4 năm 1863". Xin trích dẫn khá đầy đủ Di thảo
này:
"Tôi là Nguyễn Trường Tộ, bề tôi nước Đại Nam đã từng trốn ra nước
ngoài xin đem những điều mà tôi đã biết và thấy một cách chính xác về sự
thế trong thiên hạ, mạo tội kính bẩm...
Ngày nay các nước phương Tây, đã bao chiếm suốt từ Tây nam cho
đến Đông bắc, toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc,
Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật
Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là
không bị họ chẹn họng bám lưng... Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có
xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương mù
thấm đọng thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt...
Đến như địa thế Trung Hoa chiếm 1 phần 3 Đông phương, nhân số
đến 360 triệu, uy thế lẫy lừng, ai cũng phải thần phục họ cả, thế mà từ thời
Minh về sau, người Tây phương vượt biển sang Đông, hai bên đánh nhau,
thây chất thành đống, sau phải giảng hòa không biết bao nhiêu lần. Còn
như ta là một xứ nóng, gần kề Quế hải (Biển Đông), là trạm nghỉ chân của
người Tây phương trên đường sang Đông...
Mới đây, người Pháp thừa thế đánh xong tỉnh Quảng Đông, đã đưa
quân tinh nhuệ xuống phía Nam, làm Đà Nẵng thất thủ...Người Pháp đến
đây, một là hỏi ta vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi vì sao không chịu giao
thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường giao thương như các
https://thuviensach.vn
nước thường làm. Lúc đầu họ không có ý đi cướp nước ngoài. Nếu những
yêu sách của họ được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây
hấn...
Hiện nay quân Pháp đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện
thuộc hạt, họ đào kinh đắp lũy trừ kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ
đã về rừng, rồng đã xuống biển. Bây giờ như ta muốn cố thủ thành trì đợi
cho họ tê liệt thì thật chẳng khác nào muốn quét sạch lá rừng, tát cạn nước
biển. Không hòa mà chiến, khác nào như cứu lửa đổ thêm dầu, không
những không cứu được mà còn cháy nhanh hơn nữa.
Tôi thường nghiên cứu sự thay thế trong thiên hạ mà biết rằng hòa với
Pháp là thượng sách. Hơn nữa ở châu Âu việc võ bị chỉ có nước Pháp là
đứng hạng nhất, hùng mạnh nhất không thua ai cả... Thật đúng như sách
Doanh hoàn chí lược đã chép vậy.
Nếu như ngày kia Pháp đưa quân đến thì việc vượt biển cũng như đi
trên đất bằng, trèo non như đi trên đường bộ. Nước ta tựa núi kề biển, địa
thế như một con rắn dài. Nếu họ dùng hỏa thuyền chia nhau đánh cắt các
tỉnh dọc bờ biển, lại cho các tàu đậu ngoài cửa sông lớn để triệt sự vận tải
đường biển của ta, lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn để chặn
đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của đội quân Cần
Vương, rồi lại đổ bộ tiến đánh các chỗ xung yếu...
Quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao gậy gộc, không thạo súng
ống, dù phục binh gài bẫy, nhưng trận đồ như vậy chỉ hợp cho những tình
thế không cấp bách, chỉ đánh được gần chứ không đánh được xa...
Hơn nữa họ đã lão luyện chiến trận, những phương pháp của Đông
phương như dụ địch, kiêu binh, địa lôi, hỏa công, sập hầm, thuốc độc họ
đều biết cả... Huống chi việc thắng bại lại do ở nhuệ khí. Họ từ xa đến dấn
thân vào chỗ chết với khí thế một ra đi là không trở về...
Theo binh pháp, muốn cố thủ phải có hai điều kiện: một là thành trì,
hai là nhân tâm. Lúc địch mới đến thì phải gấp rút chặn những chỗ xung
yếu mà đuổi nó đi. Nếu kẻ địch đã thọc sâu vào cứ điểm, thì phải có thành
cao hào sâu để hãm kẻ địch mệt mỏi. Đó là thượng sách. Ngày nay quân
Pháp có hỏa thuyền để vận tải thì việc vượt muôn dặm cũng bằng chèo một
https://thuviensach.vn
mái chèo mà thôi... Nếu cần lắm thì phải gửi giấy xin quân Anh đóng ở Ấn
Độ, Hương Cảng, Thượng Hải... thì sớm chiều là có thể đến nơi để giúp.
Lại có quân của Y Pha Nho ở Lữ Tống (Phi Luật Tân) đến dồn sức tấn
công...
Hiện nay tình hình trong nước rối loạn. Trời thì sinh tai biến để cảnh
cáo, đất thì hạn hán tai ương, tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ..., trong
Triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc
hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái
khuynh loát nhau;... ngoài ra các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng
xưng bá... bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước... Như thế loạn không phải
chỉ từ bên ngoài mà ở ngay trong nước vậy...
Sự thế hiện nay chỉ có hòa...
Dân sẽ yên, sau sẽ khiến kẻ hiền tài vượt biển sang các nước lớn học
cách đánh trận giữ thành, học tập trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu
dài, mới biết lường sức đo tài, biết hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi
mới sinh kỹ xảo, rất mực kỹ xảo mới mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng uy sức nhuệ,
đợi thời hành động, mất ở phía Đông thì lấy lại ở phía Tây..."[16].
Chúng tôi trích dẫn tóm tắt Di thảo số 1 và thiển nghĩ đây là một dị
bản của điều trần Hòa từ được đệ đạt từ năm 1861 hoặc đầu năm 1862,
nghĩa là trước khi ký kết hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862) rất bất lợi cho ta.
Tư tưởng chiến hay hòa là tư tưởng của thời kỳ Âu Tây đem quân đi chiếm
thuộc địa khắp thế giới. Lấy tư tưởng ngày nay mà phê bình thì không thích
đáng. Lời nhận định nặng nề của Nguyễn Trường Tộ về tình hình nội bộ
của ta, tỏ ra ông là người sáng suốt và cương trực. Thật đáng suy nghĩ!
Trong Hòa từ cũng như trong Thiên hạ đại thế luận, Nguyễn Trường
Tộ viết khi Charner "đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc
hạt" với ý đồ "hỏi một là tại vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi vì sao không
chịu giao thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường giao thương
như các nước thường làm". Đó là khoảng đầu năm hay giữa năm 1861.
Cuộc nghị hòa chưa thực hiện. Ngày 29.11.1861, Charner trao quyền cho
Bonard; viên này đánh chiếm nốt các tỉnh miền đông Nam Kỳ và cả Vĩnh
https://thuviensach.vn
Long. Triều đình thấy nguy cơ lan rộng đành chấp nhận hòa đàm. Bonard
đặt điều kiện hòa ước nặng nề hơn Charner. Phan Thanh Giản và Lâm Duy
Thiếp nhỡ ký hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862), mặc dầu có góp ý "không
giao tỉnh thành" của linh mục Đặng Đức Tuấn. Vì có điều liên can đến lịch
sử Giáo hội tại Việt Nam, chúng tôi xin tạm dịch lời mở đầu với 12 điều
của hòa ước.
https://thuviensach.vn
2
Nội dung hòa ước 1862
Ngày hôm nay, Hoàng đế nước Pháp là Napoléon III, Nữ hoàng nước
Tây Ban Nha là Isabelle II và Quốc vương nước An Nam là Tự Đức nhiệt
tình mong ước rằng hiệp ước hoàn hảo nhất từ nay chi phối giữa ba nước
Pháp, Tây Ban Nha và An Nam, đều muốn cho tình hữu nghị và hòa bình
giữa ba nước không bao giờ tan vỡ.
(Nhằm mục đích ấy có Đô đốc Louis-Adolphe Bonard đại diện Hoàng
đế Pháp, Đại tá Don Carlos Palanca Guttierez đại diện Nữ hoàng Tây Ban
Nha, và Thượng thư Phan Thanh Giản, Thượng thư Lâm Duy Thiếp đại
diện Quốc vương Tự Đức cùng đồng thuận về các Điều của hiệp định hòa
bình và thân hữu này).
Điều 1: Kể từ nay sẽ có nền hòa bình vĩnh cửu giữa Hoàng đế nước
Pháp, Nữ hoàng Tây Ban Nha một bên và Quốc vương An Nam một bên;
tình hữu nghị cũng sẽ trọn vẹn và vĩnh cửu giữa công dân ba nước, bất cứ
họ ở đâu.
Điều 2: Công dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha sẽ có thể thi hành
việc thờ phượng đạo Kitô trong nước An Nam và công dân của nước này
bất cứ ai muốn gia nhập và theo đạo Kitô sẽ được tự do không bị ngăn cản;
nhưng không ai được ép uổng theo đạo những người không muốn theo.
Điều 3: Toàn thể ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường (Mỹ Tho)
và Côn Đảo sẽ hoàn toàn theo hòa ước này thuộc chủ quyền trọn vẹn của
Hoàng đế nước Pháp.
Ngoài ra thương nhân Pháp sẽ được tự do buôn bán và lưu thông
bằng bất cứ tàu thuyền nào trên sông Mêkông và tất cả chi lưu của sông
https://thuviensach.vn
này; cũng sẽ như vậy đối với chiến hạm Pháp đi thanh tra trên sông này và
tất cả những chi lưu.
Điều 4: Một khi hòa bình tái lập, nếu một nước ngoài muốn được trao
cho một phần đất đai An Nam - hoặc bằng gây hấn, hoặc bằng hiệp ước thì Quốc vương An Nam sẽ thông báo trước cho sứ thần Pháp để đệ trình
trường hợp xảy ra ngõ hầu Hoàng đế Pháp được hoàn toàn tự do trong
việc có trợ giúp hay không Vương quốc An Nam. Nhưng nếu trong hiệp ước
với ngoại quốc có vấn đề trao nhượng đất đai, thì việc trao nhượng ấy chỉ
có thể hợp thức hóa bằng sự chấp thuận của Hoàng đế Pháp.
Điều 5: Công dân đế quốc Pháp và vương quốc Tây Ban Nha có thể
được tự do thương mại trong ba hải cảng Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên.
Công dân An Nam cũng được tự do thương mại trong các hải cảng
Pháp và Tây Ban Nha theo đúng luật pháp hiện hành.
Nếu một nước ngoài giao thương với An Nam, thì công dân nước
ngoài ấy không được biệt đãi hơn công dân Pháp và Tây Ban Nha...
Điều 6: Khi hòa bình tái lập, nếu có vấn đề gì quan trọng phải thương
thảo, thì ba nhà vua sẽ cử đại diện thương thuyết tại một trong ba thủ đô...
Điều 7: Khi hòa bình tái lập thì sự hận thù hoàn toàn không còn. Vì
thế Hoàng đế Pháp sẽ chấp thuận một cuộc đại xá cho các công dân dù
quân sự hay dân sự của vương quốc An Nam từng tham chiến và tài sản bị
tịch thu của họ sẽ được giải tỏa. Quốc vương An Nam cũng sẽ tổng đại xá
cho những công dân mình từng đầu hàng và theo Pháp, đại xá cho những
người ấy và cả gia đình họ.
Điều 8: Quốc vương An Nam phải trả một chiến phí là bốn triệu đôla
trong vòng mười năm.
Sẽ được trừ đi số tiền mười vạn quan đã đưa trước rồi. Vương quốc
An Nam không có tiền đôla, vậy mỗi đô-la tính là 72 phần 100 của lạng
bạc.
Điều 9: Nếu một kẻ gian phi, trộm cướp hay phản loạn An Nam vi
phạm trộm cướp hay phá rối trật tự trong phần lãnh thổ thuộc Pháp, hay
nếu công dân Âu châu nào phạm pháp trốn sang lãnh thổ An Nam, thì lập
https://thuviensach.vn
tức chính quyền Pháp thông tin cho chính quyền An Nam biết để cố bắt giữ
kẻ phạm pháp và trao cho chính quyền Pháp.
Cũng cư xử như thế đối với kẻ gian phi trộm cướp hay tạo loạn người
An Nam sau khi phạm tội chạy chốn sang địa hạt Pháp.
Điều 10: Cư dân ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên có thể tự do
buôn bán trong ba tỉnh thuộc Pháp tuân theo luật lệ hiện hành; nhưng việc
chuyên chở binh lính, khí giới, đạn dược hoặc lương thực giữa ba tỉnh đó
với Nam Kỳ thì phải duy nhất đi qua đường biển.
Tuy nhiên, Hoàng đế Pháp chấp thuận việc chuyên chở như thế vào
Cao Miên thì qua Mỹ Tho gọi là Cửa Tiền, với điều kiện là chính quyền An
Nam phải báo trước cho Đại diện Hoàng đế để nhận lãnh giấy thông hành.
Nếu không theo đúng thủ tục đó và việc chuyển vận thâm nhập không có
giấy phép, thì phương tiện chuyên chở cùng đồ đạc chuyên chở sẽ bị bắt
giữ và đồ đạc bị tiêu hủy.
Điều 11: Tỉnh thành Vĩnh Long vẫn bị chiếm giữ bởi quân đội Pháp
tới khi có lệnh mới, song không ngăn cản hoạt động của quan chức An
Nam. Tỉnh thành này sẽ được trả về Quốc vương An Nam ngay khi nhà vua
làm cho ngưng hết sự phản loạn do chính lệnh của nhà vua hiện còn tồn tại
trong hai tỉnh Gia Định, Định Tường, và khi các thủ lãnh phản loạn ra đi
tạo cho xứ sở yên ả và khuất phục đúng như một xứ sở thanh bình.
Điều 12: Mỗi vị Thượng quan toàn quyền của ba nước sẽ báo cáo lên
Quốc trưởng mình và kể từ hôm nay ngày ký hiệp ước này trong thời hạn
một năm, sau khi ba vị Quốc trưởng xem xét và phê chuẩn hiệp ước, thì
nghi thức chuẩn nhận sẽ được tiến hành tại thủ đô vương quốc An Nam.
Các Đại diện Toàn quyền tương ứng kể trên đây cùng ký tên và đóng
dấu vào hiệp ước này để làm tin.
Làm tại Sài Gòn, năm 1862 ngày 5 tháng 6.
Năm Tự Đức thứ 15, tháng 5, ngày 9.
Đã ký
Bonard, Carlos Palanca,
Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp[17]
https://thuviensach.vn
Mười hai điều khoản hiệp ước tai hại cho tiền đồ Việt Nam như vậy
nên Tự Đức đau đớn than rằng: "Thương thay cho con đỏ của lịch triều,
nào có tội gì? Rất là đau lòng! Hai viên này không những là người có tội
của bản triều mà là có tội với nghìn muôn đời vậy!".
Việc hòa đàm được thực hiện do chính vua Tự Đức và triều thần đồng
ý trong hoàn cảnh: "Nguyên soái Phú Lãng Sa là Phô Na (Bonard) sai Xuy
Mông chạy tàu máy vào cửa biển Thuận An... để đưa thư bàn về việc hòa.
Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành đem việc tâu lên. Vua hỏi, đình thần và
bọn Trương Đăng Quế đều lấy việc cho sứ đi lại là phải"[18]. Tuy nhiên, kết
quả điều đình là hiệp ước Nhâm Tuất tai hại quá đỗi. Tự Đức cùng đình
thần cả phe chủ hòa lẫn phe chủ chiến đều tức tốc ráng công sửa chữa...
Trong 12 điều của hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862) chỉ có điều 2 quy
định vấn đề tôn giáo: "Công dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha sẽ có thể
thi hành việc tôn thờ đạo Kitô trong nước An Nam và công dân của nước
này bất cứ ai muốn gia nhập và theo đạo Kitô sẽ được tự do không bị ngăn
cản; nhưng không ai được ép uổng theo đạo những người không muốn
theo"[19].
https://thuviensach.vn
3
Nguyễn Trường Tộ bàn về tự do tôn
giáo
Trước khi có hiệp ước, Tự Đức ra chỉ dụ bắt giết tất cả giáo sĩ Công
giáo và bắt "phân sáp" toàn thể giáo dân chia ra các làng lương dân để kiểm
soát và khống chế. Khi có hiệp ước, tất nhiên các giáo sĩ ngoại quốc và giáo
dân vui mừng. Tuy thế vẫn còn những giáo sĩ bản quốc và tín hữu sĩ phu,
tiêu biểu hơn cả là linh mục Đặng Đức Tuấn và nhân sĩ Nguyễn Trường Tộ
cho rằng đế quốc Tây phương chỉ lấy cớ cấm đạo để xâm chiếm nước ta,
mặc dầu việc cấm đạo là có thật. Cho nên linh mục Đặng Đức Tuấn đề nghị
với Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp "Đòi bồi thì chịu, đừng giao tỉnh
thành" khi ký hiệp ước Nhâm Tuất[20]. Còn Nguyễn Trường Tộ đệ đạt lên
triều đình Tự Đức bản điều trần Bàn về tự do tôn giáo (Giáo môn luận)
ngày 29.3.1863 với nội dung chủ yếu như sau:
"Trộm nghĩ rằng cái đức lớn của trời đất là sự sống. Sống là gì? Là
làm cho muôn vật đều được bảo toàn thiên tính của nó. Vì vậy mà trên trời
có sao sáng mây đẹp thì cũng có gió lớn mưa to; dưới đất có lúa tươi thóc
tốt thì cũng có cỏ xấu sâu độc. Tuy tốt xấu khác nhau nhưng đều được sinh
nở không cái nào bị hại. Như vậy mới sáng tỏ cái đại toàn của trời đất.
Chứ cái gì đẹp thì tô bồi, cái gì xấu thì dẹp bỏ, cái gì hay thì che chở, cái gì
dở thì hủy hoại thì không làm sao thấy được cái vĩ đại, cái kỳ diệu của tạo
vật...
Vua đối với dân, xem bề ngoài tuy có tôn ty khác nhau, nhưng bề
trong cũng cùng một lẽ sinh thành của tạo vật mà thôi. Tạo vật đối với
muôn loài, các việc ăn nghỉ ham muốn đều được theo xu hướng của nó,
https://thuviensach.vn
không cưỡng ép phải làm khác đi cái điều nó yêu thích hay hòa đồng với
cái điều nó không ưa. Vì vậy cho nên tuy sống chung lộn với nhau mà vẫn
thành ...
NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VỚI TRIỀU ĐÌNH TỰ ĐỨC
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Biên Khảo
NXB Trẻ
Ebook: Cuibap
Nguồn Text: cailubietdi
https://thuviensach.vn
Lời Tựa
Năm 2011, Đức giám mục Vinh - Nguyễn Thái Hợp có thiện ý muốn
tổ chức kỷ niệm 140 năm (1871-2011) ngày qua đời của nhà yêu nước
Nguyễn Trường Tộ ngay tại quê hương và phần mộ ở Xã Đoài, huyện Nghi
Lộc, thành phố Vinh nay. Nhiều học giả đã tán thành và gửi bài tham luận.
Rất tiếc năm 201 là năm có nhiều vấn đề nhạy cảm mà vấn đề Nguyễn
Trường Tộ nằm trong số đó! Nên không có gì để kỷ niệm Nguyễn Trường
Tộ cho đáng với một nhân vật lịch sử lớn như ông.
Tôi cũng được vinh dự đóng góp một báo cáo nhỏ. Đó là bài Giả như
kế hoạch đánh úp Gia Định của Nguyễn Trường Tộ được thi hành![1]. Tất
nhiên, không có tọa đàm hay nghi thức kỷ niệm thì bài này không được ra
mắt quý bạn đọc.
Sau ngày 30.4.1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, giới Công giáo
thành phố Hồ Chí Minh thường biểu lộ lòng mến quê hương với bài ca rất
phổ biến Trước khi là Công giáo tôi là người Việt Nam. Công giáo hay
không, đều là người Việt Nam, đều có nghĩa vụ và quyền lợi của một công
dân trung thành với tổ quốc dân tộc.
Thiển nghĩ Nguyễn Trường Tộ là nhân vật Công giáo nêu tấm gương
yêu nước tuyệt vời ấy ngay từ thời "trung quân ái quốc", trong một giai
đoạn lịch sử cực kỳ phức tạp và đen tối. Ông đã điều trần Tự do tôn
giáo[2]là quyền thiêng liêng, nhưng nhiệm vụ phụng sự đất nước cũng là
bất khả kháng. Ngay từ khi Công giáo truyền vào Việt Nam hơn 400 năm
trước, một sáng kiến thần học đã lập thuyết Tam phụ tức phải tôn kính ba
cha: Trời, (thượng phụ). Vua (trung phụ) và đấng sinh thành (hạ phụ). Như
vậy, càng kính Chúa và hiếu hạnh thì càng phải "trung quân ái quốc". Lý
thuyết đâu có trái nghịch với thực tế! Trong một điều trần, Nguyễn Trường
https://thuviensach.vn
Tộ giải thích về thuyết Tam phụ rất minh bạch và hấp dẫn, trước khi sáng
tác điều trần Ngôi vua là quý, chức quan là trọng
[3] . Tuy nhiên, với tư
cách một thường dân tha thiết tới vận mệnh dân tộc, Nguyễn Trường Tộ đã
đệ đạt lên triều đình Tự Đức những bài học lịch sử và thời sự quốc tế nhằm
canh tân xứ sở và cứu nguy dân tộc.
Nhân dịp kỷ niệm này, tôi đã mạo muội viết một số bài trên tuần báo
Công giáo và Dân Tộc ngõ hầu giới thiệu Nguyễn Trường Tộ như một tấm
gương ái quốc chói sáng cho tín hữu chúng tôi. Từ xưa đến nay đã có nhiều
học giả hay tác giả viết về Nguyễn Trường Tộ. Tôi đã học hỏi được nhiều,
song tôi không thể trích dẫn hết các điều trần và những nhận xét sâu sắc
của quý vị. Tôi chỉ dám lựa chọn một góc nhỏ: Nguyễn Trường Tộ với triều
đình Tự Đức (1861-1871) và đặc biệt sử dụng tư liệu tổng hợp về Nguyễn
Trường Tộ của Trương Bá Cần[4]cùng bộ chính sử Đại Nam thực lục chính
biên[5].
Chúng ta đều biết khoảng giữa thế kỷ XIX, sau khi thôn tính được
nhiều thuộc địa trên thế giới, đế quốc Pháp khởi công xâm chiếm nước ta
và các tiểu quốc thuộc quyền bảo hộ Việt Nam ở Đông Dương, với lý do
Việt Nam không tôn trọng tự do tôn giáo! Ngày 19.6.1988, Tòa thánh
phong hiển thánh cho 117 tín hữu, mà dưới ba triều Minh Mạng - Thiệu Trị
- Tự Đức có tới 111 vị (58+3+50) tuẫn tử trong thời gian từ 1833 đến 1862.
Đó là những năm Pháp đem tàu chiến và quân lực đến uy hiếp và đánh phá
Việt Nam. Tín hữu hy sinh thực sự vì trung thành với đức tin, nhưng chính
quyền cấm đạo và tàn sát tín hữu có lẽ vì lý do chính trị hơn tín ngưỡng.
Tôi đã cố giải thích khúc mắc này qua tập sách nhỏ Tiểu sử Cha Khâm Đặng Đức Tuấn[6].
Dẫu chỉ lựa chọn nghiên cứu vấn đề ở một góc hẹp và đa phần là trích
dẫn các tư liệu chính xác, nhưng chúng tôi vẫn thành thực xin quý độc giả
nhắc nhở cho biết những gì còn sai nhầm hay thiếu sót. Xin trân trọng cám
ơn.
Cuối thu năm 2012
Nguyễn Đình Đầu
https://thuviensach.vn
Danh nhân Nguyễn Trường Tộ qua đời ngày 22.11.1871, đến nay đã
142 năm. Lịch sử đã ghi nhận ông là một sĩ phu bày mưu tính kế giải phóng
dân tộc từ buổi đầu Pháp xâm chiếm nước ta và đạo đạt phương lược canh
tân xứ sở trước cả thời Nhật với Minh Trị Thiên Hoàng.
Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830, con cụ lang Nguyễn Quốc Thủ, tại
thôn Xã Đoài nay thuộc huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Xã Đoài là thôn
theo đạo Công giáo từ lâu đời. Năm 1846, giáo phận Vinh (nguyên gọi là
Tây Đàng Ngoài) được thành lập với Giám mục tiên khởi là Gauthier Hậu.
Ngài liền lấy Xã Đoài làm trụ sở. Khi ấy Nguyễn Trường Tộ 16 tuổi đã
thông thạo nho học với tứ thư ngũ kinh, với sử sách Đông phương và đất
nước, lại được mệnh danh là "trạng Tộ". Ông mở trường dạy học tại gia.
Đức cha Hậu biết ông Tộ là người tài đức, liền mời ông làm thầy dạy các
chủng sinh của giáo phận. Đồng thời ông Tộ cũng nhờ cậy Đức cha Hậu,
học thêm tiếng Pháp và nghiên cứu nền văn minh Tây phương cùng lịch sử
đổi thay của các quốc gia trên thế giới, kể cả sự tiến bộ về khoa học và kỹ
thuật.
Tình hình đạo đời đương thời hầu như thúc bách Nguyễn Trường Tộ
trau dồi thêm nhiều kiến thức: Năm 1833 Minh Mạng ban hành chỉ dụ cấm
đạo khắc nghiệt sau vụ nổi loạn Lê Văn Khôi mà khi tái chiếm thành Gia
Định bắt được cố Marchand Du cùng một số ít giáo dân ở trong. Dưới thời
Thiệu Trị nối ngôi từ 1841 đến 1847, việc cấm đạo được nới nhẹ hơn. Tuy
nhiên, từ khi Tự Đức lên ngôi năm 1848, nhiều nước Tây phương kể cả
Hoa Kỳ, nhất là Pháp, đến xin mở cửa giao thương. Pháp xin thêm trả tự do
cho các vị thừa sai Tây phương và cho truyền giáo. Đôi lần Pháp đem cả
chiến thuyền đến thị oai. Tự Đức thấy đó là mưu đồ đế quốc xâm chiếm
nước ta, nên càng bế quan tỏa cảng và ráo riết cấm đạo.
Năm 1858, Pháp kết hợp với Tây Ban Nha - nước có nhiều giáo sĩ ở
giáo phận Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình...) - đem
chiến thuyền đến đánh phá Cửa Hàn (Đà Nẵng) và tìm đường ra chiếm kinh
đô Huế. Tự Đức liền ra chỉ dụ trảm quyết hết giáo sĩ kể cả bản quốc và
phân sáp toàn thể giáo dân. Đức cha Hậu (Gauthier) - giám mục đại diện
Tông tòa coi sóc giáo phận Vinh và Nguyễn Trường Tộ đành phải sang
https://thuviensach.vn
Hồng Kông lánh nạn. Đây cũng là dịp Nguyễn Trường Tộ xuất dương để
mắt thấy tai nghe những hiện tượng lớn lao làm thay đổi tình hình thế giới.
Ông đọc thêm "tân thư" mà Trung Quốc dịch thuật từ sách tiến bộ Tây
phương. Ông được tiếp xúc và đàm đạo sâu sắc với giới thức giả Đông
phương và Tây phương kể cả mục sư Tin Lành tân tiến. Ông kiểm nghiệm
giữa kiến thức đã thâu thái với thực tế diễn biến đương thời. Tất nhiên ông
đặc biệt chú ý đến những gì liên quan đến đất nước và con người Việt Nam.
Có lẽ ông cũng có dịp tham quan Tân Gia Ba và Pênăng. Hai nơi này đều là
thuộc địa của Anh giống như Hương Cảng và là những trung tâm giao
thương quốc tế bắt đầu phát triển theo mô hình tư bản Tây phương. Ông
cùng Giám mục Hậu trở về Sài Gòn năm 1861.
Chúng ta biết rằng năm 1858 Pháp và Tây Ban Nha đánh phá Cửa
Hàn, nhưng thất bại, nên năm sau tức 1859 kéo quân vào Nam xâm chiếm
thủ phủ Gia Định (Sài Gòn). Suốt hai năm từ đầu năm 1859 đến đầu năm
1861, Pháp chịu nhiều khốn đốn mới chiếm đóng được một phần nhỏ Sài
Gòn vì phải rút quân sang Trung Hoa chinh chiến. Khi chiến tranh giữa
Trung Hoa và liên quân Anh - Pháp chấm dứt, Đô đốc Charner đem một
đội quân hùng hậu tới đánh phá đại đồn Chí Hòa do thống tướng Nguyễn
Tri Phương chỉ huy, rồi mở rộng thêm nhiều khu chiếm đóng. Charner đã
mời Giám mục Hậu về Sài Gòn, Nguyễn Trường Tộ cũng về theo. Charner
nhận ông Tộ làm thông dịch viên. Ông làm việc này với thâm ý lèo lái sự
việc cho có lợi về phía Việt Nam trong cuộc thương nghị hòa bình. Nhưng
ngày 16.12.1861, Bonard hung hãn đánh chiếm Biên Hòa; ngày 7.1.1862
đánh chiếm Bà Rịa. Ông Tộ không mong gì ở hòa cuộc nữa và thôi làm từ
dịch cho Pháp. Ông vẫn ở Sài Gòn, ngấm ngầm liên lạc với quan chức đang
có trách nhiệm giải quyết vấn đề hòa hay chiến tại đây, nhằm mục đích
thông tin xác thực để giải quyết tình huống có lợi cho Việt Nam. Nhân tiện
ông giúp xây cất tu viện Dòng thánh Phaolô (số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1,
thành phố Hồ Chí Minh nay), bắt đầu tháng 9.1862 và hoàn tất ngày
18.7.1864. Giáo sĩ Le Mée kể lại như sau:
"Đức Giám mục Gauthier và Linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ
Đàng Ngoài, tên là Lân (tức Nguyễn Trường Tộ), với trí thông minh hiếm
https://thuviensach.vn
có. Được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của giám mục
mình, nho sĩ Đàng Ngoài này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc
suất công việc. Trước kia ông có ở Hồng Kông ít lâu và trong thời gian
ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và
thể loại kiến trúc của châu Âu. Thời đó ở Sài Gòn chưa có một công trình
nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do Nữ tu Benjamin
(Bề trên) cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung
và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt
Nam. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom
công việc một cách rất cẩn thận; chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác
của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý
tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện
được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ
cũng như chưa có nhà thầu"[7].
Suốt 11 năm, từ đầu năm 1861 khi ở Hồng Kông về Sài Gòn đến cuối
năm 1871 lúc qua đời, Nguyễn Trường Tộ đã đệ đạt nhiều văn thư và điều
trần tới các thượng quan lo nhiệm vụ chiến hay hòa với Pháp, tới Lục bộ
triều đình cùng cả Cơ mật viện. Tiếc thay nhiều văn bản đã mất mát. Nay
chỉ còn 58 di thảo hay điều trần[8]. Chúng tôi tạm chia ra hai phần:
1. Thời gian chuẩn bị (1861 - 1865) chỉ có 7 di thảo.
2. Thời gian hợp tác (1866 - 1871) có 51 di thảo.
https://thuviensach.vn
1
Thời gian chuẩn bị hay chờ đợi
Ngày 25.2.1861, Đô đốc Pháp Charner và đại tá Tây Ban Nha
Palanca đem quân đến phá đại đồn Chí Hòa. Thống tướng Nguyễn Tri
Phương phải lui binh. Triều đình cử Nguyễn Bá Nghi tới thay thế. Pháp đề
nghị với Nguyễn Bá Nghi thương thuyết ngưng chiến. Phía Việt Nam do dự
nấn ná. Ngày 10.4.1861, Pháp chiếm đóng kinh Bảo Định (từ Tân An đến
Mỹ Tho). Ngày 12.4.1861, Đô đốc Page chiếm Mỹ Tho. Đến đây, những
điều kiện thương thuyết của Charner tương đối còn nhẹ, thí dụ chỉ muốn
được giao thương trong toàn quốc Việt Nam và đòi một thương điếm vĩnh
viễn giống Hồng Kông hoặc Tân Gia Ba. Nguyễn Trường Tộ liền gửi tới
Nguyễn Bá Nghi một văn thư:
"Nay có đánh họ cũng không đi, hòa họ cũng không đi. Họ chỉ xin
mình một miếng đất mà thôi. Nếu cứ cương quyết không cho, họ sẽ lập mưu
cướp hết, từ khách quay lại làm chủ, như thế là tiếc một mảnh đất mà đem
cả nước trao cho họ. Nếu biết rằng họ đã đến là không đi, họ ỷ thế vào
những nước khác, thì đánh với họ tức là mất cái lớn không đáng mất mà
còn tỏ ra mất đó là vì bất lực, không hợp tình, không kêu nài gì được, chi
bằng hòa mà mất cái nhỏ không thể không mất mà còn tỏ ra mình ngoại
giao biết điều và là việc hợp tình hợp lý có hơn không?...
Nhượng một tấc đất mà nhân dân được lợi vô cùng. Như thế chẳng
phải là làm việc chung cho thiên hạ đó sao? Người xưa cũng làm như thế
thôi. Không thể bỏ cách đó mà theo khác được. Thế là xoay chuyển một cái
mà kẻ sống người chết đều chịu ơn, thật là sáng rõ, rõ như ánh sáng lửa rọi,
chẳng còn hình tích gì đáng nghi nữa cả. Dân đã yên, sau sẽ khiến kẻ hiền
tài vượt biển sang các nước lớn học cách đánh trận giữ thành, học tập trí
https://thuviensach.vn
xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài, mới biết lường sức đo tài, biết
hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi mới sinh kỹ xảo, rất mực kỹ xảo mới
mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng uy sức nhuệ, đợi thời hành động, mất ở phía Đông
thì lấy ở phía Tây cũng chưa muộn gì"[9].
Triều đình Huế không chịu điều đình. Ngày 20.11.1861, Charner bàn
giao quyền hành cho Đô đốc Bonard. Ngày 9.12.1861, Bonard đánh chiếm
Biên Hòa. Ngày 1.2.1862, thiết lập trại giam ở Côn Đảo. Ngày 28.3.1862,
Bonard đánh chiếm Vĩnh Long. Sau đó Bonard đề nghị lập hòa ước nhưng
với những điều kiện nặng nề hơn Charner nhiều. Sử Thực lục ghi:
"Nguyên soái Phú Lãng Sa là Phố Na (Bonard) sai Xuy Mông chạy
tàu máy vào cửa biển Thuận An... để đưa thư bàn về việc hòa"[10]. Trương
Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Lâm Duy Thiếp "lấy việc
cho sứ đi là phải". "Thư đưa nói ba việc là: một là đặt toàn quyền; một là
bồi trả quân nhu; một là đưa trước 10 vạn quan tiền để làm tin... Vua nói:
Tạm thời khuất mình, tạm thời chịu phí, mà có thể cứu được quân dân,
không bị mất đất đai thì nên lắm. Duy sợ không tiếp tục mãi được thì việc
quân lại dấy lên, thành ra không được việc gì. Đến như việc đặt toàn quyền,
đến lúc ấy mà không thể nói được, nếu theo họ thì có nước cũng như
không, đã chịu nhục mà đời đời chịu tai vạ..."[11].
Sử Thực lục ghi tiếp: "Khi ấy Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp xin
đi. Lại chuẩn cho sung làm chánh phó sứ toàn quyền đại thần đề nghị về
việc hòa. Lại sai đình thần bàn định đại ý về điều ước, vua sửa định rồi
trao cho". Đình thần bàn định khá kỹ về 14 điều do Pháp đề nghị. Tự Đức
phán bảo rằng: "Về khoản đạo giáo công hành, quyết không thể cho được.
Nếu không được đúng thì chỉ được theo như lần trước đã nghĩ: đến thì phải
trình, ở thì phải có nơi. Nam Kỳ thì chỉ một xứ Gia Định, Bắc Kỳ thì Nam
Định hoặc Hải Dương một xứ mà thôi... Đến như địa hạt Gia Định, Biên
Hòa, Định Tường chỉ cho ở đấy buôn một hai nơi mà thôi; nếu không dừng
được thì chỉ đến chuộc là cùng". Trước khi sứ đoàn ra đi, chỉ thị còn nói:
"Những khoản nào chưa có dự nghĩ, thì việc nhỏ mọn nên chiểu lẽ mà làm
cho ổn thỏa, còn việc quan trọng to lớn thì lấy lẽ mà tranh biện. Nếu họ
https://thuviensach.vn
nghe theo thì thôi, họ không nghe thì kiếm lời thoái thác để ngừng hoãn lại,
đợi được báo cáo sẽ làm cho hợp sự thế"[12].
Ngày 24 tháng 4 năm Nhâm Tuất, sứ đoàn Phan Thanh Giản, Lâm
Duy Thiếp đi thuyền Loan Thoại vào Gia Định. Trong sứ đoàn có linh mục
Đặng Đức Tuấn làm thông ngôn. Ngày 9 tháng 5 (dương lịch là ngày
5.6.1862) là ngày ký hòa ước. Phía đối phương có Đô đốc Bonard đại diện
nước Pháp, đại tá Palanca - Guttierez đại diện Tây Ban Nha. Aubaret dịch
giả Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức làm thông ngôn (Cố
Trường Legrand de la Liraye và Trương Vĩnh Ký chỉ làm thông ngôn ở
vòng ngoài về phía Pháp).
Ngày 26.5.1862, sứ đoàn Việt Nam tới Sài Gòn, đại diện ba nước trao
đổi ủy nhiệm thư trên chiến hạm Le Duperré đậu ở bến sông đầu đường
Đồng Khởi nay. Sau đó là hội nghị diễn ra tại Trường Thi (Nhà Văn hóa
Thanh niên, 4 Phạm Ngọc Thạch, Q.1 hiện tại). Đối phương đòi những điều
kiện quá đáng, linh mục Đặng Đức Tuấn kể lại:
Phan - Lâm đòi Tuấn hỏi han:
"Tây xin nhiều quá, Tuấn bàn làm sao?"
Tuấn rằng: "Ông lớn lượng cao,
Đòi bồi thì chịu, đừng giao tỉnh thành.
Ý tôi thời vậy đã đành,
Mặc lượng quan lớn quyền hành chủ trương"[13].
Ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất tức ngày 5.6.1862, ba bên ký kết một
hòa ước rất bất lợi cho ta.
Sử Thực lục ghi rõ: "Khi sắp đi, vua rót rượu của vua dùng ban cho.
Rồi dụ rằng: đất đai quyết không thể nào cho được, tà giáo quyết không
cho tự do tuyên truyền. Kịp khi hai viên ấy (Phan Thanh Giản, Lâm Duy
Thiếp) đến Gia Định, bèn đem đất ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên
Hòa nhường cho Tây dương, lại nhận số bạc bồi quân phí đến 400 vạn
đồng, ước tính đến 280 vạn lạng bạc) và lập nhà giảng đạo, mở phố thông
thương, gồm 12 khoản... Vua nói: thương thay con đỏ của lịch triều, nào có
tội gì? Rất là đau lòng! Hai viên này không những là người có tội của bản
https://thuviensach.vn
triều mà là người có tội của nghìn muôn đời vậy!... (Đình thần) xin bắt tội.
Vua nói: bây giờ há có người hiền tài nào mà đổi hết được dư. Bèn cho
Thanh Giản lãnh tổng đốc Vĩnh Long, Duy Thiếp lãnh tuần phủ Thuận
Khánh cùng với tướng nước Phú Lãng Sa biện bác để chuộc tội"[14].
Kết quả hòa ước Nhâm Tuất như vừa kể rất tai hại cho Việt Nam; khác
xa với sự phân tích tình thế và mong đợi của Nguyễn Trường Tộ trình bày
trong Di thảo số 1 Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ (Thiên hạ đại
thế luận) [15]. Đọc kỹ nội dung Di thảo này, chúng ta sẽ biết đây là văn kiện
mà Nguyễn Trường Tộ viết trước khi có hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862),
chứ không phải là "tháng 3-4 năm 1863". Xin trích dẫn khá đầy đủ Di thảo
này:
"Tôi là Nguyễn Trường Tộ, bề tôi nước Đại Nam đã từng trốn ra nước
ngoài xin đem những điều mà tôi đã biết và thấy một cách chính xác về sự
thế trong thiên hạ, mạo tội kính bẩm...
Ngày nay các nước phương Tây, đã bao chiếm suốt từ Tây nam cho
đến Đông bắc, toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc,
Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật
Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là
không bị họ chẹn họng bám lưng... Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có
xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương mù
thấm đọng thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt...
Đến như địa thế Trung Hoa chiếm 1 phần 3 Đông phương, nhân số
đến 360 triệu, uy thế lẫy lừng, ai cũng phải thần phục họ cả, thế mà từ thời
Minh về sau, người Tây phương vượt biển sang Đông, hai bên đánh nhau,
thây chất thành đống, sau phải giảng hòa không biết bao nhiêu lần. Còn
như ta là một xứ nóng, gần kề Quế hải (Biển Đông), là trạm nghỉ chân của
người Tây phương trên đường sang Đông...
Mới đây, người Pháp thừa thế đánh xong tỉnh Quảng Đông, đã đưa
quân tinh nhuệ xuống phía Nam, làm Đà Nẵng thất thủ...Người Pháp đến
đây, một là hỏi ta vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi vì sao không chịu giao
thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường giao thương như các
https://thuviensach.vn
nước thường làm. Lúc đầu họ không có ý đi cướp nước ngoài. Nếu những
yêu sách của họ được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây
hấn...
Hiện nay quân Pháp đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện
thuộc hạt, họ đào kinh đắp lũy trừ kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ
đã về rừng, rồng đã xuống biển. Bây giờ như ta muốn cố thủ thành trì đợi
cho họ tê liệt thì thật chẳng khác nào muốn quét sạch lá rừng, tát cạn nước
biển. Không hòa mà chiến, khác nào như cứu lửa đổ thêm dầu, không
những không cứu được mà còn cháy nhanh hơn nữa.
Tôi thường nghiên cứu sự thay thế trong thiên hạ mà biết rằng hòa với
Pháp là thượng sách. Hơn nữa ở châu Âu việc võ bị chỉ có nước Pháp là
đứng hạng nhất, hùng mạnh nhất không thua ai cả... Thật đúng như sách
Doanh hoàn chí lược đã chép vậy.
Nếu như ngày kia Pháp đưa quân đến thì việc vượt biển cũng như đi
trên đất bằng, trèo non như đi trên đường bộ. Nước ta tựa núi kề biển, địa
thế như một con rắn dài. Nếu họ dùng hỏa thuyền chia nhau đánh cắt các
tỉnh dọc bờ biển, lại cho các tàu đậu ngoài cửa sông lớn để triệt sự vận tải
đường biển của ta, lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn để chặn
đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của đội quân Cần
Vương, rồi lại đổ bộ tiến đánh các chỗ xung yếu...
Quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao gậy gộc, không thạo súng
ống, dù phục binh gài bẫy, nhưng trận đồ như vậy chỉ hợp cho những tình
thế không cấp bách, chỉ đánh được gần chứ không đánh được xa...
Hơn nữa họ đã lão luyện chiến trận, những phương pháp của Đông
phương như dụ địch, kiêu binh, địa lôi, hỏa công, sập hầm, thuốc độc họ
đều biết cả... Huống chi việc thắng bại lại do ở nhuệ khí. Họ từ xa đến dấn
thân vào chỗ chết với khí thế một ra đi là không trở về...
Theo binh pháp, muốn cố thủ phải có hai điều kiện: một là thành trì,
hai là nhân tâm. Lúc địch mới đến thì phải gấp rút chặn những chỗ xung
yếu mà đuổi nó đi. Nếu kẻ địch đã thọc sâu vào cứ điểm, thì phải có thành
cao hào sâu để hãm kẻ địch mệt mỏi. Đó là thượng sách. Ngày nay quân
Pháp có hỏa thuyền để vận tải thì việc vượt muôn dặm cũng bằng chèo một
https://thuviensach.vn
mái chèo mà thôi... Nếu cần lắm thì phải gửi giấy xin quân Anh đóng ở Ấn
Độ, Hương Cảng, Thượng Hải... thì sớm chiều là có thể đến nơi để giúp.
Lại có quân của Y Pha Nho ở Lữ Tống (Phi Luật Tân) đến dồn sức tấn
công...
Hiện nay tình hình trong nước rối loạn. Trời thì sinh tai biến để cảnh
cáo, đất thì hạn hán tai ương, tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ..., trong
Triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc
hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái
khuynh loát nhau;... ngoài ra các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng
xưng bá... bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước... Như thế loạn không phải
chỉ từ bên ngoài mà ở ngay trong nước vậy...
Sự thế hiện nay chỉ có hòa...
Dân sẽ yên, sau sẽ khiến kẻ hiền tài vượt biển sang các nước lớn học
cách đánh trận giữ thành, học tập trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu
dài, mới biết lường sức đo tài, biết hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi
mới sinh kỹ xảo, rất mực kỹ xảo mới mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng uy sức nhuệ,
đợi thời hành động, mất ở phía Đông thì lấy lại ở phía Tây..."[16].
Chúng tôi trích dẫn tóm tắt Di thảo số 1 và thiển nghĩ đây là một dị
bản của điều trần Hòa từ được đệ đạt từ năm 1861 hoặc đầu năm 1862,
nghĩa là trước khi ký kết hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862) rất bất lợi cho ta.
Tư tưởng chiến hay hòa là tư tưởng của thời kỳ Âu Tây đem quân đi chiếm
thuộc địa khắp thế giới. Lấy tư tưởng ngày nay mà phê bình thì không thích
đáng. Lời nhận định nặng nề của Nguyễn Trường Tộ về tình hình nội bộ
của ta, tỏ ra ông là người sáng suốt và cương trực. Thật đáng suy nghĩ!
Trong Hòa từ cũng như trong Thiên hạ đại thế luận, Nguyễn Trường
Tộ viết khi Charner "đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc
hạt" với ý đồ "hỏi một là tại vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi vì sao không
chịu giao thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường giao thương
như các nước thường làm". Đó là khoảng đầu năm hay giữa năm 1861.
Cuộc nghị hòa chưa thực hiện. Ngày 29.11.1861, Charner trao quyền cho
Bonard; viên này đánh chiếm nốt các tỉnh miền đông Nam Kỳ và cả Vĩnh
https://thuviensach.vn
Long. Triều đình thấy nguy cơ lan rộng đành chấp nhận hòa đàm. Bonard
đặt điều kiện hòa ước nặng nề hơn Charner. Phan Thanh Giản và Lâm Duy
Thiếp nhỡ ký hòa ước Nhâm Tuất (5.6.1862), mặc dầu có góp ý "không
giao tỉnh thành" của linh mục Đặng Đức Tuấn. Vì có điều liên can đến lịch
sử Giáo hội tại Việt Nam, chúng tôi xin tạm dịch lời mở đầu với 12 điều
của hòa ước.
https://thuviensach.vn
2
Nội dung hòa ước 1862
Ngày hôm nay, Hoàng đế nước Pháp là Napoléon III, Nữ hoàng nước
Tây Ban Nha là Isabelle II và Quốc vương nước An Nam là Tự Đức nhiệt
tình mong ước rằng hiệp ước hoàn hảo nhất từ nay chi phối giữa ba nước
Pháp, Tây Ban Nha và An Nam, đều muốn cho tình hữu nghị và hòa bình
giữa ba nước không bao giờ tan vỡ.
(Nhằm mục đích ấy có Đô đốc Louis-Adolphe Bonard đại diện Hoàng
đế Pháp, Đại tá Don Carlos Palanca Guttierez đại diện Nữ hoàng Tây Ban
Nha, và Thượng thư Phan Thanh Giản, Thượng thư Lâm Duy Thiếp đại
diện Quốc vương Tự Đức cùng đồng thuận về các Điều của hiệp định hòa
bình và thân hữu này).
Điều 1: Kể từ nay sẽ có nền hòa bình vĩnh cửu giữa Hoàng đế nước
Pháp, Nữ hoàng Tây Ban Nha một bên và Quốc vương An Nam một bên;
tình hữu nghị cũng sẽ trọn vẹn và vĩnh cửu giữa công dân ba nước, bất cứ
họ ở đâu.
Điều 2: Công dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha sẽ có thể thi hành
việc thờ phượng đạo Kitô trong nước An Nam và công dân của nước này
bất cứ ai muốn gia nhập và theo đạo Kitô sẽ được tự do không bị ngăn cản;
nhưng không ai được ép uổng theo đạo những người không muốn theo.
Điều 3: Toàn thể ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường (Mỹ Tho)
và Côn Đảo sẽ hoàn toàn theo hòa ước này thuộc chủ quyền trọn vẹn của
Hoàng đế nước Pháp.
Ngoài ra thương nhân Pháp sẽ được tự do buôn bán và lưu thông
bằng bất cứ tàu thuyền nào trên sông Mêkông và tất cả chi lưu của sông
https://thuviensach.vn
này; cũng sẽ như vậy đối với chiến hạm Pháp đi thanh tra trên sông này và
tất cả những chi lưu.
Điều 4: Một khi hòa bình tái lập, nếu một nước ngoài muốn được trao
cho một phần đất đai An Nam - hoặc bằng gây hấn, hoặc bằng hiệp ước thì Quốc vương An Nam sẽ thông báo trước cho sứ thần Pháp để đệ trình
trường hợp xảy ra ngõ hầu Hoàng đế Pháp được hoàn toàn tự do trong
việc có trợ giúp hay không Vương quốc An Nam. Nhưng nếu trong hiệp ước
với ngoại quốc có vấn đề trao nhượng đất đai, thì việc trao nhượng ấy chỉ
có thể hợp thức hóa bằng sự chấp thuận của Hoàng đế Pháp.
Điều 5: Công dân đế quốc Pháp và vương quốc Tây Ban Nha có thể
được tự do thương mại trong ba hải cảng Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên.
Công dân An Nam cũng được tự do thương mại trong các hải cảng
Pháp và Tây Ban Nha theo đúng luật pháp hiện hành.
Nếu một nước ngoài giao thương với An Nam, thì công dân nước
ngoài ấy không được biệt đãi hơn công dân Pháp và Tây Ban Nha...
Điều 6: Khi hòa bình tái lập, nếu có vấn đề gì quan trọng phải thương
thảo, thì ba nhà vua sẽ cử đại diện thương thuyết tại một trong ba thủ đô...
Điều 7: Khi hòa bình tái lập thì sự hận thù hoàn toàn không còn. Vì
thế Hoàng đế Pháp sẽ chấp thuận một cuộc đại xá cho các công dân dù
quân sự hay dân sự của vương quốc An Nam từng tham chiến và tài sản bị
tịch thu của họ sẽ được giải tỏa. Quốc vương An Nam cũng sẽ tổng đại xá
cho những công dân mình từng đầu hàng và theo Pháp, đại xá cho những
người ấy và cả gia đình họ.
Điều 8: Quốc vương An Nam phải trả một chiến phí là bốn triệu đôla
trong vòng mười năm.
Sẽ được trừ đi số tiền mười vạn quan đã đưa trước rồi. Vương quốc
An Nam không có tiền đôla, vậy mỗi đô-la tính là 72 phần 100 của lạng
bạc.
Điều 9: Nếu một kẻ gian phi, trộm cướp hay phản loạn An Nam vi
phạm trộm cướp hay phá rối trật tự trong phần lãnh thổ thuộc Pháp, hay
nếu công dân Âu châu nào phạm pháp trốn sang lãnh thổ An Nam, thì lập
https://thuviensach.vn
tức chính quyền Pháp thông tin cho chính quyền An Nam biết để cố bắt giữ
kẻ phạm pháp và trao cho chính quyền Pháp.
Cũng cư xử như thế đối với kẻ gian phi trộm cướp hay tạo loạn người
An Nam sau khi phạm tội chạy chốn sang địa hạt Pháp.
Điều 10: Cư dân ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên có thể tự do
buôn bán trong ba tỉnh thuộc Pháp tuân theo luật lệ hiện hành; nhưng việc
chuyên chở binh lính, khí giới, đạn dược hoặc lương thực giữa ba tỉnh đó
với Nam Kỳ thì phải duy nhất đi qua đường biển.
Tuy nhiên, Hoàng đế Pháp chấp thuận việc chuyên chở như thế vào
Cao Miên thì qua Mỹ Tho gọi là Cửa Tiền, với điều kiện là chính quyền An
Nam phải báo trước cho Đại diện Hoàng đế để nhận lãnh giấy thông hành.
Nếu không theo đúng thủ tục đó và việc chuyển vận thâm nhập không có
giấy phép, thì phương tiện chuyên chở cùng đồ đạc chuyên chở sẽ bị bắt
giữ và đồ đạc bị tiêu hủy.
Điều 11: Tỉnh thành Vĩnh Long vẫn bị chiếm giữ bởi quân đội Pháp
tới khi có lệnh mới, song không ngăn cản hoạt động của quan chức An
Nam. Tỉnh thành này sẽ được trả về Quốc vương An Nam ngay khi nhà vua
làm cho ngưng hết sự phản loạn do chính lệnh của nhà vua hiện còn tồn tại
trong hai tỉnh Gia Định, Định Tường, và khi các thủ lãnh phản loạn ra đi
tạo cho xứ sở yên ả và khuất phục đúng như một xứ sở thanh bình.
Điều 12: Mỗi vị Thượng quan toàn quyền của ba nước sẽ báo cáo lên
Quốc trưởng mình và kể từ hôm nay ngày ký hiệp ước này trong thời hạn
một năm, sau khi ba vị Quốc trưởng xem xét và phê chuẩn hiệp ước, thì
nghi thức chuẩn nhận sẽ được tiến hành tại thủ đô vương quốc An Nam.
Các Đại diện Toàn quyền tương ứng kể trên đây cùng ký tên và đóng
dấu vào hiệp ước này để làm tin.
Làm tại Sài Gòn, năm 1862 ngày 5 tháng 6.
Năm Tự Đức thứ 15, tháng 5, ngày 9.
Đã ký
Bonard, Carlos Palanca,
Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp[17]
https://thuviensach.vn
Mười hai điều khoản hiệp ước tai hại cho tiền đồ Việt Nam như vậy
nên Tự Đức đau đớn than rằng: "Thương thay cho con đỏ của lịch triều,
nào có tội gì? Rất là đau lòng! Hai viên này không những là người có tội
của bản triều mà là có tội với nghìn muôn đời vậy!".
Việc hòa đàm được thực hiện do chính vua Tự Đức và triều thần đồng
ý trong hoàn cảnh: "Nguyên soái Phú Lãng Sa là Phô Na (Bonard) sai Xuy
Mông chạy tàu máy vào cửa biển Thuận An... để đưa thư bàn về việc hòa.
Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành đem việc tâu lên. Vua hỏi, đình thần và
bọn Trương Đăng Quế đều lấy việc cho sứ đi lại là phải"[18]. Tuy nhiên, kết
quả điều đình là hiệp ước Nhâm Tuất tai hại quá đỗi. Tự Đức cùng đình
thần cả phe chủ hòa lẫn phe chủ chiến đều tức tốc ráng công sửa chữa...
Trong 12 điều của hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862) chỉ có điều 2 quy
định vấn đề tôn giáo: "Công dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha sẽ có thể
thi hành việc tôn thờ đạo Kitô trong nước An Nam và công dân của nước
này bất cứ ai muốn gia nhập và theo đạo Kitô sẽ được tự do không bị ngăn
cản; nhưng không ai được ép uổng theo đạo những người không muốn
theo"[19].
https://thuviensach.vn
3
Nguyễn Trường Tộ bàn về tự do tôn
giáo
Trước khi có hiệp ước, Tự Đức ra chỉ dụ bắt giết tất cả giáo sĩ Công
giáo và bắt "phân sáp" toàn thể giáo dân chia ra các làng lương dân để kiểm
soát và khống chế. Khi có hiệp ước, tất nhiên các giáo sĩ ngoại quốc và giáo
dân vui mừng. Tuy thế vẫn còn những giáo sĩ bản quốc và tín hữu sĩ phu,
tiêu biểu hơn cả là linh mục Đặng Đức Tuấn và nhân sĩ Nguyễn Trường Tộ
cho rằng đế quốc Tây phương chỉ lấy cớ cấm đạo để xâm chiếm nước ta,
mặc dầu việc cấm đạo là có thật. Cho nên linh mục Đặng Đức Tuấn đề nghị
với Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp "Đòi bồi thì chịu, đừng giao tỉnh
thành" khi ký hiệp ước Nhâm Tuất[20]. Còn Nguyễn Trường Tộ đệ đạt lên
triều đình Tự Đức bản điều trần Bàn về tự do tôn giáo (Giáo môn luận)
ngày 29.3.1863 với nội dung chủ yếu như sau:
"Trộm nghĩ rằng cái đức lớn của trời đất là sự sống. Sống là gì? Là
làm cho muôn vật đều được bảo toàn thiên tính của nó. Vì vậy mà trên trời
có sao sáng mây đẹp thì cũng có gió lớn mưa to; dưới đất có lúa tươi thóc
tốt thì cũng có cỏ xấu sâu độc. Tuy tốt xấu khác nhau nhưng đều được sinh
nở không cái nào bị hại. Như vậy mới sáng tỏ cái đại toàn của trời đất.
Chứ cái gì đẹp thì tô bồi, cái gì xấu thì dẹp bỏ, cái gì hay thì che chở, cái gì
dở thì hủy hoại thì không làm sao thấy được cái vĩ đại, cái kỳ diệu của tạo
vật...
Vua đối với dân, xem bề ngoài tuy có tôn ty khác nhau, nhưng bề
trong cũng cùng một lẽ sinh thành của tạo vật mà thôi. Tạo vật đối với
muôn loài, các việc ăn nghỉ ham muốn đều được theo xu hướng của nó,
https://thuviensach.vn
không cưỡng ép phải làm khác đi cái điều nó yêu thích hay hòa đồng với
cái điều nó không ưa. Vì vậy cho nên tuy sống chung lộn với nhau mà vẫn
thành ...
 





